Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Quản lý nhà nước về Đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đỗ Kiến Vọng dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Ngô Thắng Lợi (Đại học Kinh tế Quốc dân) và TS. Nguyễn Ngọc Thao (Học viện Hành chính Quốc gia). Luận án được bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Quản lý kinh tế, mã số đào tạo 9.34.04.10.
Về tính cấp thiết, tác giả trình bày công tác quản lý nhà nước (QLNN) về đấu thầu mua sắm công (ĐTMSC) ở Việt Nam xuất phát từ năm áp lực và đòi hỏi thực tiễn:
- Yêu cầu chuyển đổi cơ chế quản lý nhà nước từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, cơ chế xin - cho sang cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng, tạo cơ hội phát triển đồng đều cho mọi chủ thể kinh tế trong xã hội.
- Áp lực từ quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, đòi hỏi hệ thống pháp luật của Việt Nam phải linh hoạt, tương thích với các hiệp định thương mại song phương và đa phương cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
- Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (phát triển trên ba trụ cột: kỹ thuật số, công nghệ sinh học và vật lý) làm thay đổi căn bản phương thức quản trị công, đòi hỏi ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin vào quản lý, đặc biệt là triển khai đấu thầu qua mạng nhằm hạn chế tổn thất và dự phòng rủi ro.
- Yêu cầu cải cách hành chính theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII nhằm khắc phục các bất cập thực tế trong hoạt động ĐTMSC như: tình trạng thông thầu, quân xanh - quân đỏ, chia nhỏ gói thầu, tham nhũng, lãng phí, sự thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật và hiệu lực thanh tra, kiểm tra, giám sát còn hạn chế.
- Khoảng trống về cơ sở lý luận: Thực tiễn quản lý, đào tạo và giảng dạy tại Việt Nam đang thiếu một khung lý thuyết đầy đủ, khoa học, toàn diện và có tính đặc thù về QLNN đối với ĐTMSC để các cơ quan chức năng nắm bắt đúng bản chất, từ đó hoàn thiện chính sách.
Về mục tiêu nghiên cứu, luận án xác định ba mục tiêu cụ thể:
- (i) Hệ thống hóa cơ sở khoa học của QLNN về ĐTMSC;
- (ii) Đánh giá, phát hiện đúng những bất cập của công tác QLNN về ĐTMSC ở Việt Nam thời gian qua và những nguyên nhân của những bất cập đó;
- (iii) Đưa ra một cơ sở khoa học về quan điểm, định hướng hoàn thiện và những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QLNN về ĐTMSC ở Việt Nam trong thời gian tới.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án nghiên cứu hệ thống khái niệm (chi tiêu công, mua sắm công, ĐTMSC, QLNN về ĐTMSC); các chủ thể tham gia (cơ quan QLNN ở trung ương và địa phương, các Ban quản lý dự án đầu tư công, các doanh nghiệp nhà nước); cùng các hoạt động và nội dung QLNN về ĐTMSC.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Thực hiện trên quy mô toàn quốc đối với các cơ quan quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước từ trung ương đến địa phương, các Ban quản lý dự án đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước; không bao gồm các cơ quan Đảng, Đoàn thể, Quốc hội, Quân đội, Tòa án và các tổ chức chính trị - xã hội.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2005 – 2017; đề xuất định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn, giải pháp đến năm 2030.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nội dung cấu thành công tác QLNN về ĐTMSC tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã điểm cứu hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo từng nhóm vấn đề:
Nhóm các nghiên cứu trong nước về lý luận hành chính và quản lý nhà nước:
- Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước của Nguyễn Hữu Hải (2010) cung cấp khung khái niệm về quản lý nhà nước, quản lý hành chính nhà nước, 3 chức năng quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) cùng hệ thống nguyên tắc hành chính tại Việt Nam.
- Luận án của Nguyễn Thị Hồng Minh (2016) vận dụng lý thuyết của Henri Fayol để phân tích chức năng QLNN đối với dự án PPP hạ tầng giao thông đường bộ và các nhóm yếu tố ảnh hưởng.
- Nghiên cứu của Vũ Thanh Sơn chỉ rõ 4 hạn chế về hiệu lực quản lý nhà nước ở Việt Nam gồm quản trị công lạc hậu; trách nhiệm và chuyên môn công chức chưa rõ ràng; công cụ thực thi chưa đồng bộ; công tác kiểm tra, giám sát và cưỡng chế sai phạm còn lỏng lẻo.
- Luận án của Nguyễn Đăng Hưng (2016) làm rõ vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và tiêu chí đánh giá vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong kiểm soát nợ công.
Nhóm các nghiên cứu trong nước về chi tiêu công và mua sắm công:
- Giáo trình của Trần Văn Giao (2011) về tài chính công và công sản phân tích tính phức tạp trong quản lý chi ngân sách nhà nước (NSNN).
- Luận án của Nguyễn Khắc Đức (2002) và Nguyễn Thị Phú Hà (2004) hệ thống hóa cơ cấu chi ngân sách theo các trường phái kinh tế (cổ điển, tân cổ điển, Keynes), phân tích vai trò phân bổ nguồn lực của chi tiêu công đối với tăng trưởng.
- Nghiên cứu của Trần Vũ Hải phân tích chế độ chi mua sắm tài sản công theo Quyết định số 170/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Báo cáo của nhóm chuyên gia Phạm Thế Anh, Trần Đình Thiên, Ngô Trí Long chỉ ra quy mô chi tiêu công của Việt Nam năm 2013 vượt quá 30% GDP, cao hơn mức tối ưu 15 - 20% GDP của các nền kinh tế đang phát triển.
- Nghiên cứu của Lê Chi Mai (2014) tại hội nghị EROPA chỉ ra tốc độ tăng chi tiêu công giai đoạn 2001 - 2012 đạt 19,08%, vượt tốc độ tăng GDP bình quân (17,29%), đồng thời đề xuất 6 nhóm giải pháp về chuyển đổi mô hình tăng trưởng, quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra và công khai minh bạch.
Nhóm các nghiên cứu về đấu thầu, cam kết quốc tế và kinh nghiệm mua sắm:
- Nguyễn Ngọc Sơn (2006) chỉ rõ hiện tượng thông thầu giữa chủ đầu tư và nhà thầu làm triệt tiêu tính cạnh tranh; Nguyễn Minh Thảo (2013) phân tích những điểm mới của Luật Đấu thầu năm 2013; Đặng Xuân Minh và Bùi Xuân Phong biên soạn khung lý thuyết về đấu thầu quốc tế.
- Đức Việt (2005) và Lương Hoàng Thái phân tích Chương 15 về Mua sắm Chính phủ trong Hiệp định TPP/CPTPP, đặc biệt là lộ trình hạ ngưỡng giá trị gói thầu áp dụng từ 2.000 SDR xuống 130 SDR vào năm thứ 26, cùng hai nguyên tắc pháp lý cốt lõi: Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT).
- Các nghiên cứu chuyên ngành của Nguyễn Thị Tiếp (1999) về đấu thầu xây dựng giao thông đường bộ; Phạm Lương Sơn về đấu thầu mua thuốc bảo hiểm y tế; Nguyễn Duy Phương (2013) về sự hài hòa giữa quy định đấu thầu trong nước (LCB) và đấu thầu quốc tế (ICB) tại các dự án ODA ngành y tế.
- Báo cáo của Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) chỉ ra năm 2010 giá trị ĐTMSC của Việt Nam đạt 14,78 tỷ USD (mua sắm hàng hóa chiếm 82%, tư vấn 14%, xây lắp 4%); bài viết của Phạm Đình Cường (Bộ Tài chính) nêu chi mua sắm công chiếm khoảng 20% tổng chi cân đối ngân sách trung ương năm 2009.
- Trung Nam (2008) phân tích mô hình Cơ quan dịch vụ mua sắm Chính phủ thuộc Văn phòng Nội các Vương quốc Anh với quy mô 400 nhân viên, giúp giảm khoảng 10% lượng mua sắm tài sản công.
Nhóm nghiên cứu quốc tế:
- Tác giả điểm lại lý thuyết quản trị chức năng của Henri Fayol (1916) với 5 chức năng (dự đoán/lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra); quan điểm của Woodrow Wilson (1887) và Leonard D. White (1926) về tính độc lập, kinh tế và hiệu quả của khoa học hành chính công.
- Các công trình định lượng và thực nghiệm: Anirudh Shingal (2015) về xu hướng ưu tiên nhà thầu nội địa; Aris Georgopoulos và Bernard M. Mavroidis (2017) về chuẩn mực quốc tế hóa mua sắm công; Hiroshi Ohashi (2009) chứng minh tính minh bạch làm giảm chi phí đấu thầu trong các dự án công trình đô thị; Volmink (2010) tại Nam Phi và Panda (2010) tại Ấn Độ về hiệu quả của hệ thống mua sắm điện tử.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận riêng lẻ ở góc độ tài chính công thuần túy, phân tích luật học, hoặc giới hạn trong từng ngành kỹ thuật cụ thể (y tế, giao thông, dự án ODA). Luận án của Đỗ Kiến Vọng là công trình khoa học chuyên ngành Quản lý kinh tế tiếp cận hoạt động ĐTMSC một cách toàn diện dưới góc độ hệ thống quản lý nhà nước; đồng thời kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính với phân tích định lượng thực nghiệm (SPSS) nhằm lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả QLNN về ĐTMSC ở Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án đặt hoạt động QLNN về ĐTMSC trong mối liên hệ liên ngành giữa Kinh tế học, Chính trị học và Xã hội học:
- Khái niệm QLNN: Tiếp thu quan điểm của Nguyễn Hữu Hải (2010), QLNN là dạng quản lý xã hội đặc biệt mang quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm duy trì ổn định và phát triển xã hội.
- Khái niệm Đấu thầu mua sắm công: Luận án đưa ra định nghĩa chuẩn hóa: "Đấu thầu mua sắm công là quá trình lựa chọn nhà thầu và ký kết thực hiện hợp đồng đối với các nhà thầu cung cấp hàng hóa và dịch vụ phục vụ hoạt động phát triển sự nghiệp của các cơ quan nhà nước; thực hiện dự án đầu tư công và phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế."
- Bốn chủ thể tham gia ĐTMSC: Cơ quan QLNN về đấu thầu; Bên mua (cơ quan nhà nước, ban quản lý dự án đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước); Bên bán (nhà thầu cung cấp); Bên tư vấn (đơn vị trung gian chuyên môn).
| Nhóm phân loại |
Các hình thức / Loại hình cụ thể được xác định trong luận án |
| Theo tính chất gói thầu (6 loại hình) |
1. Đấu thầu dịch vụ tư vấn 2. Đấu thầu dịch vụ phi tư vấn 3. Đấu thầu mua sắm hàng hóa 4. Đấu thầu xây lắp 5. Đấu thầu gói thầu hỗn hợp (EP, EC, PC, EPC, chìa khóa trao tay) 6. Đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư (dự án PPP, dự án sử dụng đất) |
| Theo phạm vi và cách thức (3 nhóm - 6 loại) |
1. Đấu thầu trong nước & Đấu thầu quốc tế 2. Đấu thầu qua mạng & Đấu thầu truyền thống 3. Đấu thầu tập trung & Đấu thầu phân tán |
| Hình thức lựa chọn nhà thầu (7 hình thức) |
1. Đấu thầu rộng rãi 2. Đấu thầu hạn chế 3. Chỉ định thầu 4. Mua sắm trực tiếp 5. Chào hàng cạnh tranh 6. Tự thực hiện 7. Đấu thầu có sự tham gia của cộng đồng |
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng Mác - Lênin và phương pháp tiếp cận hệ thống, xem xét hoạt động ĐTMSC vận động trong môi trường kinh tế - xã hội tổng thể.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Hồi cứu, phân tích và tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo chính thức của các cơ quan nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê, Kiểm toán Nhà nước).
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát bằng bảng hỏi đối với cán bộ lãnh đạo, nhà quản lý, nhà khoa học và các cá nhân có từ 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đấu thầu và QLNN về ĐTMSC.
- Phương pháp phân tích dữ liệu định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu điều tra:
- Thống kê mô tả đối tượng khảo sát và các biến nghiên cứu.
- Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm rút trích và xác định các nhóm nhân tố tác động.
- Phân tích ma trận tương quan Pearson để xác định mối liên hệ giữa các biến.
- Phân tích phương sai ANOVA và phân tích hồi quy tuyến tính bội để lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố đến hiệu quả QLNN về ĐTMSC.
- Phương pháp thống kê và so sánh: Sử dụng số liệu chuỗi thời gian giai đoạn 2005 – 2017 để so sánh dọc, so sánh chéo về quy mô chi tiêu công, quy mô gói thầu, tỷ lệ tiết kiệm theo các hình thức và lĩnh vực.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên sâu từ các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách thuộc Cục Quản lý đấu thầu, Trung tâm Đấu thầu qua mạng quốc gia, Khoa Đấu thầu thuộc Học viện Chính sách và Phát triển.
- Nguồn số liệu: Số liệu sơ cấp từ điều tra khảo sát; số liệu thứ cấp thu thập từ Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Cục Quản lý công sản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung lớn: lý luận quản lý nhà nước và hiệu lực bộ máy công quyền; quản lý chi tiêu ngân sách và mua sắm tài sản công; các quy định pháp luật về đấu thầu, cam kết quốc tế và kinh nghiệm triển khai mua sắm tập trung, mua sắm qua mạng. Tác giả phân tích những kết quả đã đạt được từ các nghiên cứu trước đây của các học giả trong nước (Nguyễn Hữu Hải, Lê Chi Mai, Phạm Thế Anh, Nguyễn Minh Thảo, Nguyễn Duy Phương...) và quốc tế (Fayol, Wilson, White, Ohashi, Shingal...). Trên cơ sở đó, chương này luận giải rõ khoảng trống nghiên cứu khoa học mà luận án tập trung giải quyết: xây dựng một khung phân tích chuyên sâu về QLNN đối với ĐTMSC theo giác độ quản lý kinh tế, có sự hỗ trợ của mô hình định lượng thực chứng tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế Quản lý nhà nước về Đấu thầu mua sắm công
Chương 2 thiết lập khung lý luận căn bản về chi tiêu công, mua sắm công, đấu thầu và QLNN về ĐTMSC. Luận án phân định rõ bản chất giữa đấu thầu mua sắm công (bắt buộc tuân thủ pháp luật về đấu thầu do sử dụng nguồn vốn NSNN hình thành từ đóng góp của nhân dân) và đấu thầu mua sắm tư (sử dụng vốn tư nhân, không chịu sự điều chỉnh bắt buộc của Luật Đấu thầu). Tác giả làm rõ nội dung, đặc điểm, chức năng, nguyên tắc QLNN về ĐTMSC, các chủ thể tham gia, 6 loại hình công việc, 7 hình thức lựa chọn nhà thầu và các yếu tố tác động (môi trường pháp lý; phương pháp và hình thức tổ chức; nội dung, đặc điểm gói thầu; trình độ, năng lực quản lý).
Về kinh nghiệm quốc tế, chương này nghiên cứu thực tiễn QLNN về ĐTMSC tại Hàn Quốc và Singapore:
- Hàn Quốc: Xây dựng hệ thống văn bản pháp lý chặt chẽ (Bảng 2.1), thiết lập cơ quan mua sắm tập trung công quyền (PPS) và vận hành Hệ thống mua sắm điện tử quốc gia KONEPS (Hình 2.7).
- Singapore: Hoàn thiện môi trường pháp lý (Bảng 2.2), chú trọng công khai minh bạch qua cổng GeBIZ và thiết lập cơ chế giám sát thực thi nghiêm ngặt.
Từ đó, luận án rút ra 4 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: hoàn thiện khung pháp lý; tối ưu hóa tổ chức bộ máy quản lý; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (đấu thầu qua mạng); chủ động tương thích với các chuẩn mực quốc tế.
Chương 3: Thực trạng Quản lý nhà nước về Đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam
Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về thực trạng mua sắm công và công tác QLNN về ĐTMSC tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2017:
- Quy mô chi ngân sách và ĐTMSC: Phân tích số liệu chuỗi thời gian về tình hình chi NSNN (Bảng 3.3, Hình 3.8, Hình 3.9), quy mô mua sắm công bình quân (Bảng 3.4), tổng giá trúng thầu ĐTMSC giai đoạn 2013 – 2017 (Bảng 3.5), quy mô số gói thầu phê duyệt và tổ chức thực hiện hàng năm từ 2007 – 2017 (Hình 3.11, Hình 3.12).
- Hiệu quả kinh tế qua tỷ lệ tiết kiệm: Tổng giá trị tiết kiệm do hoạt động đấu thầu mang lại cho NSNN giai đoạn 2005 – 2017 (Bảng 3.10), phân tích tỷ lệ tiết kiệm theo hình thức đấu thầu và theo lĩnh vực trong năm 2017 (Hình 3.13, Hình 3.14).
- Thực trạng công tác QLNN: Quá trình phát triển thể chế pháp luật về đấu thầu (Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP); mô hình tổ chức bộ máy quản lý từ trung ương đến địa phương (Hình 3.10); quy trình tổ chức đấu thầu cơ bản (Hình 3.11); kết quả triển khai đấu thầu qua mạng từ năm 2009 đến năm 2017 (Bảng 3.8), tình hình đăng ký thông tin nhà thầu và bên mời thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia từ 01/01/2016 đến 31/12/2017 (Bảng 3.7), tỷ lệ áp dụng đấu thầu qua mạng năm 2017 (Hình 3.12); công tác kiểm tra, giám sát giai đoạn 2013 – 2017 (Bảng 3.9).
| Nhóm biến / Nhân tố trong mô hình định lượng |
Kết quả phân tích thống kê và kiểm định (SPSS) |
| Mô tả đối tượng khảo sát |
Khảo sát các chuyên gia, nhà quản lý có từ 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đấu thầu và QLNN về ĐTMSC (Bảng 3.11). |
| Các nhân tố kiểm định trong mô hình |
Gồm 10 nhóm nhân tố: Chính sách pháp luật; Tổ chức bộ máy; Tuyên truyền phổ biến; Đấu thầu qua mạng; Quyết tâm của lãnh đạo; Thái độ và năng lực công chức; Thái độ và năng lực của nhà thầu; Các bên liên quan; Kiểm tra giám sát; Kênh thông tin tuyên truyền, phổ biến (Bảng 3.12, Hình 3.14 - Hình 3.23). |
| Kiểm định thang đo (Cronbach's Alpha) |
Đánh giá độ tin cậy thang đo của các biến quan sát (Bảng 3.13). |
| Phân tích nhân tố khám phá (EFA) |
Rút trích các nhân tố đặc trưng giải thích tác động đến hiệu quả QLNN (Bảng 3.14). |
| Mô hình tương quan & Hồi quy tuyến tính |
Thể hiện qua Ma trận hệ số tương quan (Bảng 3.15), Kiểm định mức độ phù hợp mô hình bằng ANOVA (Bảng 3.16), Xác định các hệ số hồi quy chuẩn hóa (Bảng 3.17, Hình 3.24). |
Trên cơ sở số liệu thống kê và khảo sát thực nghiệm, chương 3 chỉ rõ những hạn chế: Hệ thống văn bản pháp lý còn kẽ hở; tình trạng quân xanh - quân đỏ, thông thầu, chia nhỏ gói thầu để chỉ định thầu còn diễn ra phức tạp; việc áp dụng đấu thầu qua mạng còn hạn chế về tỷ lệ; năng lực công chức và công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa đạt hiệu lực cao.
Chương 4: Định hướng và Giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước về Đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam trong thời gian tới
Chương 4 xác định bối cảnh tác động trong nước và quốc tế, đặc biệt là các cam kết hội nhập thế hệ mới (CPTPP) và xu hướng công nghệ số; thiết lập môi trường tiên quyết để hoạt động QLNN đạt mục tiêu (Hình 4.25); đề xuất quan điểm và mục tiêu đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống giải pháp:
- Rà soát, sửa đổi và hoàn thiện khung khổ pháp lý về ĐTMSC dựa trên hệ thống tiêu chí định hướng rõ ràng (Bảng 4.18), loại bỏ các kẽ hở pháp luật gây thất thoát lãng phí.
- Tái cơ cấu và đề xuất mô hình tổ chức QLNN về ĐTMSC mới tại Việt Nam (Hình 4.26) nhằm phân định rõ chức năng quản lý thể chế với tổ chức thực hiện, tăng cường tính tập trung và độc lập của cơ quan giám sát.
- Mở rộng lộ trình bắt buộc và nâng cao tỷ lệ áp dụng đấu thầu qua mạng thông qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
- Đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát xã hội và chế tài xử lý sai phạm trong đấu thầu.
- Đào tạo, chuẩn hóa năng lực và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầu.
- Đổi mới tư duy quản lý: Đẩy mạnh xã hội hóa và tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ công (y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe...) cho khu vực tư nhân tham gia cung ứng thay thế cơ chế bao cấp giao chỉ tiêu cho các đơn vị sự nghiệp công lập như trước đây.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp khoa học cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận cơ bản về các khái niệm: Chi tiêu công, Mua sắm công, Đấu thầu, ĐTMSC và QLNN về ĐTMSC.
- Xây dựng hệ thống lý luận về các chức năng, nguyên tắc và bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả QLNN về ĐTMSC, làm cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Quản lý kinh tế.
- Xây dựng mô hình định lượng thực nghiệm, xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến hiệu quả công tác QLNN về ĐTMSC ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả ứng dụng:
- Đánh giá toàn diện thực trạng công tác QLNN về ĐTMSC tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2017 thông qua chuỗi số liệu thống kê thứ cấp và số liệu điều tra sơ cấp, nhận diện rõ những hạn chế thực tế (quân xanh - quân đỏ, thông đồng, chia nhỏ gói thầu) và phân tích căn nguyên của các hạn chế đó.
- Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy QLNN về ĐTMSC mới tại Việt Nam nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về hoàn thiện thể chế pháp lý, mở rộng đấu thầu qua mạng, tăng cường kiểm tra giám sát và đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ công thông qua đấu thầu cho khu vực tư nhân trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, y tế công cộng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án xác định phạm vi nghiên cứu thực tiễn không bao gồm các cơ quan Đảng, Đoàn thể, Quốc hội, Quân đội, Tòa án và các tổ chức chính trị - xã hội. Do đó, các kết luận và đánh giá thực trạng chưa bao quát được toàn bộ các cơ quan thuộc hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách nhà nước. Dữ liệu thực trạng của luận án dừng lại ở mốc thời gian năm 2017.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu trong tương lai có thể:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang khu vực chi tiêu mua sắm công của lực lượng vũ trang (quốc phòng, an ninh) và các cơ quan chính trị, đoàn thể để có bức tranh toàn diện về chi tiêu ngân sách.
- Cập nhật số liệu thực tiễn và kiểm chứng tác động của việc thực thi đầy đủ các cam kết mua sắm chính phủ trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) sau giai đoạn 2018 đến nay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Tài chính công: Có thể khai thác khung lý thuyết hệ thống về ĐTMSC, các tiêu chí đánh giá hiệu quả QLNN, cùng phương pháp thiết kế bảng hỏi và quy trình xử lý định lượng bằng phần mềm SPSS (Cronbach's Alpha, EFA, phân tích hồi quy).
- Cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan QLNN (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đấu thầu, Bộ Tài chính, các sở ban ngành địa phương): Tham khảo các luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn), đổi mới mô hình tổ chức bộ máy, lộ trình triển khai đấu thầu qua mạng và hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra.
- Các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và các nhà thầu: Tham khảo quy trình tổ chức đấu thầu chuẩn mực, nhận diện các rủi ro pháp lý và hành vi sai phạm cần tránh trong quá trình mời thầu và dự thầu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm Đấu thầu mua sắm công được luận án định nghĩa như thế nào và điểm khác biệt cơ bản nhất so với đấu thầu mua sắm tư là gì?
Luận án định nghĩa: "Đấu thầu mua sắm công là quá trình lựa chọn nhà thầu và ký kết thực hiện hợp đồng đối với các nhà thầu cung cấp hàng hóa và dịch vụ phục vụ hoạt động phát triển sự nghiệp của các cơ quan nhà nước; thực hiện dự án đầu tư công và phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế." Điểm khác biệt cốt lõi là nguồn vốn thực hiện: ĐTMSC sử dụng nguồn tiền từ ngân sách nhà nước (hình thành từ thuế, phí của người dân) nên pháp luật bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Đấu thầu; trong khi đấu thầu mua sắm tư sử dụng nguồn vốn cá nhân, doanh nghiệp tư nhân nên không bắt buộc phải áp dụng Luật Đấu thầu.
2. Phạm vi nghiên cứu của luận án loại trừ những đối tượng cơ quan nào?
Phạm vi nghiên cứu không gian của luận án trên toàn quốc nhưng không bao gồm các cơ quan Đảng, Đoàn thể, Quốc hội, Quân đội, Tòa án và các Tổ chức chính trị - xã hội. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực trạng tập trung từ năm 2005 đến năm 2017.
3. Luận án đã khảo sát và kiểm định những nhóm nhân tố nào trong mô hình hồi quy định lượng?
Luận án sử dụng phần mềm SPSS phân tích 10 nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả QLNN về ĐTMSC gồm: Chính sách pháp luật; Tổ chức bộ máy; Tuyên truyền phổ biến; Đấu thầu qua mạng; Quyết tâm của lãnh đạo; Thái độ và năng lực công chức; Thái độ và năng lực của nhà thầu; Các bên liên quan; Kiểm tra giám sát; Kênh thông tin tuyên truyền, phổ biến. Các bước kiểm định bao gồm Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson, kiểm định ANOVA và phân tích hệ số hồi quy tuyến tính.
4. Luận án nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của những quốc gia nào để rút ra bài học cho Việt Nam?
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc và Singapore. Trọng tâm nghiên cứu là hệ thống văn bản pháp lý, tổ chức bộ máy mua sắm tập trung, ứng dụng công nghệ thông tin qua mạng mua sắm điện tử (Hệ thống KONEPS của Hàn Quốc và GeBIZ của Singapore), từ đó rút ra các bài học về hoàn thiện pháp luật, mô hình bộ máy, đẩy mạnh đấu thầu qua mạng và hội nhập quốc tế.
5. Luận án đề xuất giải pháp đổi mới tư duy gì đối với lĩnh vực cung ứng dịch vụ công?
Luận án đề xuất đổi mới tư duy từ việc Nhà nước giao nhiệm vụ cho các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện sang việc đẩy mạnh triển khai đấu thầu cung cấp dịch vụ công (trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe...)