Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 9 34 04 03) với đề tài "Quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hà thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hoàng Sỹ Kim và TS. Lương Quang Huy, bảo vệ năm 2021 tại Hà Nội.
Về tính cấp thiết, hệ sinh thái đất ngập nước giữ các chức năng kinh tế và sinh thái như kiểm soát lũ lụt, bổ sung nước ngầm, giữ lại các chất bồi lắng và chất dinh dưỡng, giảm thiểu biến đổi khí hậu, làm sạch nước, cung cấp đa dạng sinh học và phát triển du lịch, giải trí. Việt Nam sở hữu tiềm năng đất ngập nước nội địa phong phú, trong đó vùng Đồng Tháp Mười là nơi cuối cùng còn duy trì hệ sinh thái điển hình rừng lau, sậy ngập nước. Quá trình khai thác phát triển kinh tế, đô thị hóa, công nghiệp hóa cùng tình trạng ô nhiễm chất thải, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và phá rừng phòng hộ đã khiến vùng đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt vào mùa khô, nước mặn xâm nhập sâu và suy thoái sinh cảnh. Các loài bản địa thích nghi lâu đời như trăn, rắn, rùa, tràm gió, sen, súng bị thu hẹp hoặc có nguy cơ biến mất. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ khoa học quản lý công đối với đất ngập nước trên địa bàn liên kết sinh thái vùng Đồng Tháp Mười.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần bổ sung lý luận quản lý nhà nước về đất ngập nước; làm rõ thực tiễn quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười; từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 4 nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
- Nghiên cứu, làm rõ một số lý luận quản lý nhà nước về đất ngập nước.
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười.
- Xác định kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý nhà nước về đất ngập nước làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười trong thời gian tới.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 4 câu hỏi:
- Quản lý nhà nước về đất ngập nước được hiểu như thế nào?
- Đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười có những đặc điểm đặc thù gì ảnh hưởng tới quản lý nhà nước?
- Thực trạng quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười như thế nào? Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân là gì?
- Những giải pháp nào góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay?
Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: Quản lý nhà nước về đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và có hệ thống lý luận được định hình về cơ bản. Thời gian qua, quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười đã đạt kết quả khả quan, song vẫn còn một số hạn chế; nếu không được hoàn thiện kịp thời thì đất ngập nước sẽ không phát huy hết giá trị, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là các tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang. Để đáp ứng yêu cầu phát triển, việc hoàn thiện quản lý nhà nước cần tập trung vào văn bản pháp lý, tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ, thanh tra kiểm tra, ứng dụng khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế và đầu tư hạ tầng kỹ thuật.
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về đất ngập nước.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về không gian: Nghiên cứu đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười, giới hạn trong địa giới hành chính của 3 tỉnh gồm Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang.
- Về thời gian: Khảo sát từ năm 2003 (thời điểm Nghị định số 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước có hiệu lực, nay được thay thế bằng Nghị định số 66/2019/NĐ-CP ngày 29/7/2019) đến năm 2021.
- Về nội dung: Tập trung vào những vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc nội dung quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án theo từng nhóm nội dung:
Các công trình nghiên cứu nước ngoài:
- Michael Williams (1990) với công trình "Wetlands: A Threatened landscape" (Nhà xuất bản Cambridge, USA) phân tích đặc điểm hình thành, phân bố và sự suy thoái của đất ngập nước tại Mỹ, nhấn mạnh vai trò quản lý chất lượng nước và giá trị văn hóa, giải trí. Luận án chỉ ra công trình này chưa đề cập sự cần thiết của quản lý nhà nước cũng như chưa đề xuất giải pháp bảo vệ trước các yếu tố làm suy giảm chức năng đất ngập nước.
- Dugan Patrick J. (1990) trong tác phẩm "Protection of wetlands" tổng hợp khoảng 50 định nghĩa về đất ngập nước, phân tích các chức năng sinh thái (khống chế lũ lụt, nạp và tiết nước ngầm, chống xói mòn, ổn định vi khí hậu, giao thông thủy...) và đề xuất thành lập "Ngành công nghiệp đất ngập nước" (wetland industry). Hạn chế là chưa đưa ra cách thức, biện pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển bền vững.
- Cocklin (1995) trong bài báo "Institutional and landowner perspectives on wetland management in New Zealand" (Tạp chí Quản lý Môi trường) chỉ ra diện tích đất ngập nước ban đầu ở New Zealand chỉ còn khoảng 8%, khảo sát thể chế quản lý tài nguyên của các hội đồng địa phương. Tác phẩm mới dừng ở khảo sát thực tế để vạch chiến lược, chưa đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý.
- Anita Pedersen và Nguyễn Huy Thắng (1996) với nghiên cứu "The conservation of key coastal wetland site in the Red River Delta" (BirdLife International, FIPI) chỉ ra 7 vùng đất ngập nước ven biển trọng yếu ở đồng bằng sông Hồng (tiêu biểu là Xuân Thủy và Nghĩa Hưng) và kiến nghị lập quy hoạch chi tiết, nhưng chưa đề cập các nội dung quản lý nhà nước.
- Gill Shepherd và Lý Minh Đăng (2009) trong "Tổng quan về áp dụng Tiếp cận Hệ sinh thái vào các khu đất ngập nước tại Việt Nam" (Nhà xuất bản Văn phòng Quốc gia IUCN tại Việt Nam) làm rõ thách thức và bài học tiếp cận hệ sinh thái từ quản lý rừng sang đất ngập nước, nhưng chỉ nghiên cứu ĐNN chung của cả nước mà chưa gắn với địa bàn cụ thể nào để làm tài liệu tham khảo cho vùng Đồng Tháp Mười.
Các công trình nghiên cứu trong nước:
- Hướng nghiên cứu thổ nhưỡng, kỹ thuật nông nghiệp và thủy văn: Lê Văn Tiềm (1980) phân tích diễn biến độ chua và cation hấp thu trao đổi dưới tác động ngập nước; Nguyễn Thành Hối (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của việc vùi rơm rạ tươi đến sinh trưởng và năng suất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long; Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2004) tính toán các đặc trưng thủy lực và mô hình thoát lũ cho vùng Đồng Tháp Mười nhưng thuần túy mang tính kỹ thuật, chưa đề cập quản lý nhà nước.
- Hướng phân loại, sinh thái học và bảo tồn: Vũ Trung Tạng (1996) xây dựng chiến lược quản lý và bảo vệ đất ngập nước vùng cửa sông 1996-2000; Nguyễn Trường Khoa (2003) nghiên cứu tài nguyên và đề xuất quản lý môi trường đất ngập nước cửa sông Bến Hải, Thạch Hãn (Quảng Trị); Cục Bảo vệ Môi trường (2005) đánh giá hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện Công ước Ramsar; Hoàng Văn Thắng (2005) phân tích hệ sinh thái ĐNN Bàu Sấu (Vườn quốc gia Cát Tiên) và đe dọa từ thực vật ngoại lai trinh nữ đầm lầy (Mimosa pigra); Cục Bảo vệ Môi trường (2006) xây dựng hệ thống phân loại đất ngập nước Việt Nam; Mai Trọng Nhuận và Trần Đăng Quy (2007) lập kế hoạch hành động bảo tồn ĐNN ven biển đến năm 2015; Nguyễn Chí Thành (2007) đề xuất hệ thống phân loại ĐNN vùng Đồng bằng sông Cửu Long gắn với quản lý nước; Nguyễn Thùy Dương (2009) nghiên cứu biến động cảnh quan ĐNN ven biển Thái Bình giai đoạn 1965-2007; Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ (2013) thành lập cơ sở dữ liệu với 280 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000 và 23 bản đồ chuyên đề vùng Đồng Tháp Mười; Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014) báo cáo bảo tồn ĐNN quan trọng và sinh cảnh liên kết thuộc dự án GEF/UNDP; Nguyễn Văn Tuấn (2014) phân tích biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn tác động lên hệ thống ĐNN Đồng bằng sông Cửu Long (Tràm Chim, Láng Sen...).
- Hướng kinh tế tài nguyên: Đinh Đức Trường (2010) đánh giá giá trị kinh tế tài nguyên ĐNN vùng cửa sông Ba Lạt (Nam Định); Viện Khoa học Quản lý Môi trường (2010) xây dựng phương pháp luận lượng hóa giá trị kinh tế tại Vườn quốc gia Tam Đảo.
| Nhóm công trình |
Tác giả tiêu biểu và năm công bố |
Trọng tâm nội dung đã thực hiện |
Khoảng trống luận án chỉ ra |
| Nước ngoài |
M. Williams (1990), P. Dugan (1990), Cocklin (1995), A. Pedersen & Nguyễn Huy Thắng (1996), G. Shepherd & Lý Minh Đăng (2009) |
Khái niệm ĐNN, đa dạng sinh học, chức năng thủy văn, thể chế New Zealand, tiếp cận hệ sinh thái |
Mới dừng ở giá trị sinh thái, kỹ thuật hoặc khảo sát chung, chưa phân tích nội dung quản lý nhà nước |
| Thổ nhưỡng & Thủy văn |
Lê Văn Tiềm (1980), Viện KHKTTV&MT (2004), Nguyễn Thành Hối (2008) |
Diễn biến độ chua đất ngập nước, mô hình tính toán thoát lũ vùng Đồng Tháp Mười, kỹ thuật canh tác lúa |
Mang tính kỹ thuật nông nghiệp, thủy lực công trình, chưa gắn với công tác quản lý nhà nước |
| Sinh thái, Phân loại & Bảo tồn |
Vũ Trung Tạng (1996), Hoàng Văn Thắng (2005), Cục BVMT (2005, 2006), Mai Trọng Nhuận (2007), Nguyễn Chí Thành (2007), Nguyễn Thùy Dương (2009) |
Hệ thống phân loại ĐNN, bảo tồn sinh thái Bàu Sấu, ĐNN ven biển Thái Bình, 15 năm Công ước Ramsar |
Tập trung vào ĐNN ven biển, cửa sông, đầm phá; chưa có nghiên cứu quản lý nhà nước chuyên sâu cho vùng Đồng Tháp Mười |
| Kinh tế tài nguyên & CSDL |
Đinh Đức Trường (2010), Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ (2013) |
Lượng giá kinh tế ĐNN cửa sông Ba Lạt; đo vẽ 280 mảnh bản đồ 1:5000 và 23 bản đồ chuyên đề vùng ĐTM |
Mới dừng ở khía cạnh lượng giá hoặc cung cấp dữ liệu nền bản đồ, chưa phân tích tổng thể thực trạng quản lý nhà nước |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tiếp cận đất ngập nước chủ yếu từ giác độ khoa học tự nhiên, sinh thái học, nông học, thủy lợi hoặc kinh tế tài nguyên; phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vùng đất ngập nước ven biển, cửa sông, đầm phá hoặc nghiên cứu chung cả nước. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Quản lý công về quản lý nhà nước đối với đất ngập nước trên địa bàn liên kết 3 tỉnh vùng Đồng Tháp Mười (Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang) trong bối cảnh thi hành Nghị định 66/2019/NĐ-CP và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng và chuẩn hóa hệ thống 8 khái niệm cơ bản:
- Đất ngập nước: Tiếp cận theo Công ước Ramsar (1971), Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (Điều 35) và Nghị định số 66/2019/NĐ-CP (Khoản 8, Điều 2), xác định là vùng đầm lầy, than bùn, vùng ngập nước thường xuyên hoặc tạm thời theo mùa, kể cả vùng ven biển, ven đảo có độ sâu không quá 06 mét khi ngấn nước thủy triều thấp nhất.
- Quản lý đất ngập nước: Được định nghĩa là tổng thể cách thức tác động của chủ thể quản lý đất ngập nước lên hệ thống đất ngập nước nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra về quản lý, bảo tồn, sử dụng khôn khéo và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.
- Bảo tồn đất ngập nước: Kế thừa quan điểm của IUCN (1991) và Nghị định số 66/2019/NĐ-CP (Khoản 1, Điều 2), là sự duy trì, bảo vệ cấu trúc, chức năng, đặc tính sinh thái và đa dạng sinh học của vùng đất ngập nước; khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt môi trường và hệ sinh thái đặc thù.
- Phát triển bền vững các vùng đất ngập nước: Dựa trên khung của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) trên 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường; là các hoạt động khai thác, sử dụng trong giới hạn cho phép nhằm duy trì giá trị hệ sinh thái.
- Quản lý nhà nước về đất ngập nước: Được tác giả xác định là quản lý vĩ mô của Nhà nước thông qua việc sử dụng bộ máy và các công cụ (kế hoạch, chính sách, pháp luật) để định hướng, điều chỉnh các hoạt động liên quan đến đất ngập nước, làm cho các hoạt động diễn ra đúng pháp luật, phù hợp thực tiễn nhằm bảo tồn, sử dụng hợp lý, phát huy giá trị đất ngập nước, bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định đời sống xã hội và bảo vệ môi trường; xử lý các việc vượt thẩm quyền của từng địa phương riêng lẻ, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
- Đa dạng sinh học: Dẫn chiếu Công ước CBD (1992) và Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (Khoản 5, Điều 3), biểu thị sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên.
- Bảo tồn đa dạng sinh học: Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và Văn bản hợp nhất số 32/VBHN-VPQH năm 2018, là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ môi trường sống, cứu hộ và lưu giữ nguồn gen các loài nguy cấp, quý, hiếm.
- Biến đổi khí hậu: Dẫn chiếu Công ước UNFCCC (1992), xác định là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ảnh hưởng có hại đến hệ sinh thái tự nhiên, hoạt động kinh tế - xã hội và sức khỏe con người.
Khung phân tích cấu trúc quản lý nhà nước về đất ngập nước gồm:
- Chủ thể quản lý: Ở Trung ương, Chính phủ thống nhất quản lý; Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ (Khoản 1, Điều 31 Nghị định số 66/2019/NĐ-CP); phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Ở địa phương, UBND các cấp (tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang) thực hiện quản lý nhà nước; cơ quan tham mưu chuyên môn gồm các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính.
- Khách thể quản lý: Bao gồm các chủ thể quản lý trực tiếp (Ban quản lý Vườn quốc gia, Ban quản lý Khu bảo tồn), các chủ thể sử dụng đất ngập nước (tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư) và tài nguyên đất ngập nước (theo quy định phân loại của Luật Đất đai năm 2013).
- Phương pháp quản lý: Phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp tuyên truyền giáo dục, kết hợp các phương pháp hỗ trợ kỹ thuật (toán học, thống kê, điều tra xã hội học).
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, đề tài sử dụng hướng tiếp cận định tính kết hợp tổng hợp số liệu thực tế:
- Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý đất đai, bảo vệ môi trường.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Tổng kết thực tiễn quản lý tại 3 tỉnh vùng Đồng Tháp Mười để khái quát hóa thành vấn đề lý luận.
- Phương pháp thống kê - tổng hợp: Hệ thống hóa số liệu về đất đai, dân số, diễn biến tài nguyên từ các báo cáo chuyên ngành.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo quy hoạch, tài liệu khoa học trong và ngoài nước.
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến tư vấn của các chuyên gia trong quá trình nghiên cứu và đề xuất giải pháp.
- Phương pháp phân tích so sánh: So sánh chỉ tiêu số liệu qua các mốc thời gian và so sánh giữa các tỉnh trong vùng Đồng Tháp Mười.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu thực tiễn quản lý đất ngập nước tại Thừa Thiên Huế, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu và quốc tế (Hà Lan) để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát bằng phiếu an-két đối với hai nhóm đối tượng gồm cán bộ, công chức, viên chức quản lý nhà nước và người dân sinh sống tại vùng đất ngập nước; sử dụng phần mềm máy tính để xử lý số liệu điều tra.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Các văn bản luật, nghị định, thông tư của Trung ương; báo cáo quản lý nhà nước, niên giám thống kê của các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang; số liệu khảo sát từ đề tài cấp Bộ của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường; cơ sở dữ liệu bản đồ của Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ; kết quả điều tra xã hội học do nghiên cứu sinh thực hiện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành các tuyến nội dung chính: sinh thái học và đa dạng sinh học đất ngập nước, kỹ thuật nông nghiệp và thủy văn vùng ngập lũ, phân loại đất ngập nước, lượng giá kinh tế tài nguyên và tiếp cận hệ sinh thái trong quản trị khu bảo tồn. Tác giả phân tích những đóng góp của các học giả đi trước (M. Williams, P. Dugan, Lê Văn Tiềm, Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Chí Thành, Đinh Đức Trường...), đồng thời chỉ ra khoảng trống về mặt học thuật: chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện phương diện quản lý nhà nước đối với đất ngập nước tại vùng Đồng Tháp Mười. Trên cơ sở đó, tác giả xác định các nội dung lý luận (khái niệm, sự cần thiết, nội dung, yếu tố ảnh hưởng) và thực tiễn (đánh giá thực trạng, nguyên nhân, giải pháp) mà luận án giải quyết.
Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về đất ngập nước
Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm chuyên ngành, khẳng định sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước về đất ngập nước trước các nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về đất ngập nước gồm: đặc điểm kinh tế - xã hội; thể chế chính trị; chính sách, pháp luật; khoa học và công nghệ; hợp tác quốc tế. Luận án tổng hợp kinh nghiệm quản lý đất ngập nước của Hà Lan và các địa phương trong nước (Thừa Thiên Huế, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu), từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho vùng Đồng Tháp Mười về hoàn thiện thể chế, phân định thẩm quyền, huy động nguồn lực và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng dân cư. Chương này có Bảng 2.1 thống kê các vùng đất ngập nước là các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười
Chương 3 trình bày các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội đặc thù vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa giới hành chính của 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang. Tác giả sử dụng các bảng số liệu thực tế gồm: Bảng 3.1 về đất đai và dân số 6 huyện vùng ĐNN tỉnh Long An; Bảng 3.2 về đất đai và dân số 7 đơn vị hành chính vùng ĐNN tỉnh Đồng Tháp năm 2018; Bảng 3.3 về đất đai và dân số 3 huyện vùng ĐNN tỉnh Tiền Giang năm 2018; Bảng 3.4 về lượng mưa các tháng mùa lũ; Bảng 3.5 về quỹ đất vùng Đồng Tháp Mười; Bảng 3.6 về các kiểu ĐNN khu vực Đồng Tháp Mười; cùng Biểu đồ 3.1 phản ánh diễn biến số lượng chim Sếu hàng năm ở Vườn quốc gia Tràm Chim.
Nội dung trọng tâm của chương là phân tích thực trạng 8 nội dung quản lý nhà nước:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, quy hoạch khai thác sử dụng đất ngập nước.
- Ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về đất ngập nước.
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đất ngập nước.
- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về đất ngập nước.
- Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý đất ngập nước.
- Quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng nguồn lợi và tiềm năng đất ngập nước, nhất là tài nguyên nước.
- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về đất ngập nước.
- Hợp tác quốc tế trong quản lý, khai thác, sử dụng và phát triển bền vững đất ngập nước.
Đánh giá thực trạng, luận án chỉ ra các kết quả đạt được như ban hành được hệ thống văn bản hướng dẫn, thiết lập các khu bảo tồn trọng điểm (Vườn quốc gia Tràm Chim, Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen), từng bước nâng cao nhận thức cộng đồng. Tuy nhiên, các hạn chế còn tồn tại gồm: quy hoạch đất ngập nước còn xung đột với chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp và phát triển hạ tầng; tổ chức bộ máy phân tán, chức năng quản lý bị chồng chéo giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; biên chế chuyên trách thiếu; công tác kiểm tra, xử lý vi phạm chưa triệt để; số lượng cá thể chim Sếu đầu đỏ tại Tràm Chim suy giảm nghiêm trọng; sinh kế người dân vùng đệm còn phụ thuộc nặng nề vào việc khai thác tự nhiên.
Chương 4: Định hướng và một số giải pháp quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười
Chương 4 xác định các định hướng quản lý nhà nước trong điều kiện biến đổi khí hậu và phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất ngập nước.
- Tiếp tục xây dựng kế hoạch, quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế (thể hiện qua Biểu đồ 4.1 về sơ đồ đề xuất khu vực ĐNN vùng Đồng Tháp Mười).
- Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy, phân công, phân cấp quản lý đất ngập nước rõ ràng giữa các ngành và các cấp chính quyền.
- Đẩy mạnh đầu tư nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị phục vụ công tác quản lý, bảo tồn.
- Tiến hành các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng "khôn khéo" đất ngập nước dựa vào cộng đồng (căn cứ dữ liệu Bảng 4.1 về kết quả nguyện vọng của người dân địa phương được tham gia vào hoạt động du lịch).
- Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về đất ngập nước.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước.
- Củng cố, tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về đất ngập nước nhằm tranh thủ vốn và công nghệ.
Chương 4 kết thúc bằng hệ thống kiến nghị khoa học gửi tới Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng UBND 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Bổ sung lý luận quản lý nhà nước về đất ngập nước trong chuyên ngành Quản lý công: Chuẩn hóa hệ thống khái niệm cơ bản (đất ngập nước, quản lý đất ngập nước, bảo tồn đất ngập nước, phát triển bền vững đất ngập nước, quản lý nhà nước về đất ngập nước).
- Làm sáng tỏ các bộ phận cấu thành của quản lý nhà nước về đất ngập nước bao gồm chủ thể quản lý (phân định trách nhiệm giữa cấp Trung ương và chính quyền địa phương 3 tỉnh), khách thể quản lý (chủ thể quản lý trực tiếp, chủ thể sử dụng và tài nguyên đất ngập nước) và phương pháp quản lý (hành chính, kinh tế, giáo dục).
- Chỉ rõ vai trò của quản lý nhà nước đối với đất ngập nước, xác định các nhóm yếu tố tác động (kinh tế - xã hội, thể chế chính trị, pháp luật, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế) và các điều kiện bảo đảm cho công tác quản lý.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh phân tích, đánh giá toàn diện, khách quan về thực trạng quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười trên địa bàn 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2021.
- Chỉ rõ các kết quả đạt được, nhận diện những hạn chế cố hữu trong phân công, phân cấp quản lý bộ máy, lập quy hoạch, thanh tra xử lý vi phạm và xung đột bảo tồn - sinh kế; phân tích rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan của các hạn chế đó.
- Đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ và các kiến nghị khoa học khả thi, tạo căn cứ để các cơ quan nhà nước hoàn thiện chính sách, kiện toàn bộ máy và tổ chức quản lý liên kết vùng hiệu quả.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Về phạm vi không gian: Luận án chỉ giới hạn trong địa giới hành chính của 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang; chưa mở rộng đánh giá liên kết thủy văn và sinh thái với toàn bộ châu thổ sông Mê Công cũng như các tỉnh lân cận thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Về nguồn dữ liệu: Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nghiên cứu, dữ liệu điều tra xã hội học bằng phiếu an-két chủ yếu tập trung vào các nhóm cán bộ và người dân tại một số huyện trọng điểm; số liệu biến động đa dạng sinh học và thủy văn (như diễn biến số lượng cá thể chim Sếu tại Vườn quốc gia Tràm Chim) kế thừa từ các báo cáo thống kê chuyên ngành sẵn có chứ chưa thể tiến hành quan trắc độc lập dài hạn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cơ chế điều phối liên kết vùng chuyên trách cho hệ sinh thái đất ngập nước toàn lưu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
- Ứng dụng sâu hơn hệ thống thông tin địa lý (GIS) và công nghệ viễn thám để cập nhật, giám sát biến động sử dụng đất ngập nước theo thời gian thực.
- Nghiên cứu mô hình lượng giá toàn diện các giá trị dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười làm cơ sở thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường cho cộng đồng dân cư địa phương.
Giá trị tham khảo
Đối với cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước:
- Cung cấp luận cứ khoa học để Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Nghị định số 66/2019/NĐ-CP.
- Giúp UBND các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang xây dựng quy chế phối hợp liên tỉnh trong quy hoạch sử dụng đất ngập nước, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước và quản lý tài nguyên liên vùng.
Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu:
- Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Quản lý tài nguyên và môi trường tại Học viện Hành chính Quốc gia và các cơ sở giáo dục đại học khác.
- Chương 2 cung cấp khung lý thuyết phục vụ giảng dạy về quản lý nhà nước đối với tài nguyên thiên nhiên; Chương 3 cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng về vùng Đồng Tháp Mười.
Đối với các đơn vị bảo tồn thiên nhiên:
- Cung cấp cơ sở khoa học để Ban quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen áp dụng phương thức sử dụng "khôn khéo" đất ngập nước, phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng theo số liệu điều tra tại Bảng 4.1.
Câu hỏi thường gặp
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về đất ngập nước. Phạm vi không gian giới hạn trong địa giới hành chính của 3 tỉnh vùng Đồng Tháp Mười gồm Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang. Phạm vi thời gian khảo sát từ năm 2003 (thời điểm Nghị định 109/2003/NĐ-CP có hiệu lực, sau này thay bằng Nghị định 66/2019/NĐ-CP ngày 29/7/2019) đến năm 2021.
-
Luận án định nghĩa thế nào về quản lý nhà nước về đất ngập nước?
Quản lý nhà nước về đất ngập nước là sự tác động có mục đích của Nhà nước thông qua các biện pháp quản lý để định hướng các hoạt động sử dụng, khai thác hợp lý tiềm năng của đất ngập nước để phát triển kinh tế - xã hội trong giới hạn cho phép; khoanh vùng bảo vệ giống, loài đang sinh sống, cư trú và phát triển trên vùng đất ngập nước; duy trì và bảo vệ môi trường; cân bằng và bảo vệ nghiêm ngặt môi trường, hệ sinh thái đặc thù, có giá trị đa dạng sinh học cao để phát triển bền vững. Dưới giác độ quản lý vĩ mô, Nhà nước sử dụng bộ máy và các công cụ (kế hoạch, chính sách, pháp luật) nhằm xử lý những vấn đề vượt khả năng của từng đơn vị hành chính riêng lẻ và làm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
-
Tác giả luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể nào?
Luận án sử dụng 7 phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp thống kê - tổng hợp; phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp chuyên gia; phương pháp phân tích so sánh; phương pháp nghiên cứu điển hình (khảo sát tại Thừa Thiên Huế, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu và Hà Lan); và phương pháp điều tra xã hội học (khảo sát bằng phiếu an-két đối với cán bộ, công chức quản lý và người dân địa phương, xử lý dữ liệu bằng phần mềm máy tính).
-
Dữ liệu thực chứng của luận án phản ánh thực trạng suy giảm loài sinh vật nào tại Đồng Tháp Mười?
Văn bản luận án chỉ rõ các loài thích nghi lâu đời như trăn, rắn, rùa, tràm gió, sen, súng đang bị thu hẹp sinh cảnh và có nguy cơ biến mất. Đặc biệt, tại Vườn quốc gia Tràm Chim, tác giả dẫn chứng Biểu đồ 3.1 phản ánh diễn biến số lượng chim Sếu hàng năm có xu hướng suy giảm rõ rệt; đồng thời hệ sinh thái đối mặt với nguy cơ xâm lấn mạnh mẽ của các loài ngoại lai như cây trinh nữ đầm lầy (Mimosa pigra).
-
Hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước vùng Đồng Tháp Mười gồm những nhóm nào?
Luận án đề xuất 8 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất ngập nước; (2) Tiếp tục xây dựng kế hoạch, quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế; (3) Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy, phân công, phân cấp quản lý; (4) Đẩy mạnh đầu tư nguồn lực tài chính, hạ tầng kỹ thuật; (5) Tiến hành các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng "khôn khéo" đất ngập nước dựa vào cộng đồng; (6) Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức; (7) Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật; (8) Củng cố, tăng cường hợp tác quốc tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước về đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hà là công trình chuyên ngành Quản lý công làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý vùng sinh thái đất ngập nước nội địa đặc thù tại 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang. Tác giả đã hệ thống hóa khung phân tích về chủ thể, khách thể và phương pháp quản lý, đồng thời đánh giá toàn diện 8 nội dung quản lý nhà nước từ năm 2003 đến năm 2021, nhận diện rõ các xung đột thể chế và áp lực suy thoái tài nguyên. Hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ và các kiến nghị cụ thể được đề xuất trong luận án cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, kiện toàn tổ chức bộ máy và thúc đẩy bảo tồn, phát triển bền vững tài nguyên đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười trong bối cảnh biến đổi khí hậu.