phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở tỉnh Quảng Trị Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Tổng quan về bảo hiểm thất nghiệp 1.
Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Theo cách hiểu thông thường, BHTN dựa trên sự đóng góp của ba bên đó là Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ nhằm bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ trong trường hợp bị mất việc làm và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động. Người thất nghiệp sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định và những khoản hỗ trợ khác nhằm giúp người thất nghiệp nhanh chóng quay lại thị trường lao động. Theo Luật Việc làm được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 [29], Điều 3: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp”. BHTN là một bộ phận của BHXH.
Tuy nhiên BHTN có tính đặc thù riêng, có những hỗ trợ giúp NLĐ nhanh chóng có việc làm và ổn định cuộc sống như: hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm… trên cơ sở mức đóng vào quỹ BHTN, cả BHYT giúp chăm sóc sức khỏe cho người thất nghiệp. BHTN là biện pháp hỗ trợ NLĐ giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời cho NLĐ trong thời gian chưa tìm kiếm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới. ILO (Tổ chức lao động thế giới) định nghĩa: “BHTN là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập do bị mất việc làm nhằm ổn định cuộc sống cho người lao động và giúp họ có điều kiện tham gia vào thị trường lao động”. Lịch sử hình thành bảo hiểm thất nghiệp BHTN xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ XIX ở Châu Âu dưới những hình thức sơ khai và chưa phải là do chính quyền quốc gia tổ chức.
Từ cuối thế kỷ XIX, BHTN đã xuất hiện, khởi đầu là nguồn tài chính của quỹ công đoàn. Dần dần một số chủ doanh nghiệp vì lợi ích của chính họ để ổn định đội ngũ công nhân lành nghề đã thành lập Quỹ trợ cấp mất việc, nghỉ việc tạm thời. Về sau một số thành phố, chính quyền đứng ra thành lập quỹ BHTN với phương thức tự nguyện. Với phương thức này, quỹ BHTN chỉ thu hút được những NLĐ trong phạm vi thành phố đó.
Trên thực tế, đa số người đóng cho quỹ là những người có việc làm không ổn định, người có thu nhập thấp mới tham gia, dẫn đến quỹ thu không đủ để chi. Ở những thành phố mà chính quyền không đứng ra thành lập quỹ BHTN, thì chính quyền tài trợ cho các quỹ bảo hiểm tư nhân, quỹ công đoàn để tăng thêm mức trợ cấp cho người thất nghiệp và đảm bảo an toàn cho quỹ. Để khắc phục tình trạng trên và muốn duy trì, phát triển quỹ BHTN để bảo vệ NLĐ thì đòi hỏi khách quan là phải mở rộng BHTN ở phạm vi quốc gia. Vào năm 1883, quỹ BHTN do chính quyền tổ chức đầu tiên đã xuất hiện ở Berne (Thụy Sỹ) [35] nhằm bảo vệ cho tất cả công nhân, không phân biệt là thành viên công đoàn hay không.
Trong khi Thụy sỹ cho ra đời quỹ BHTN thì ở Bỉ và Pháp Chính quyền chủ trương viện trợ cho các quỹ công đoàn và giới chủ để trợ cấp cho những NLĐ mất việc làm. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, có 11 nước [35] đã ban hành luật pháp quốc gia về BHTN. Ngoài ra, các nước Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Áo, Cộng hòa liên bang Đức, Nam Tư cũng tiếp nối với chủ trương bắt đầu bằng viện trợ của Nhà nước cho các quỹ BHTN tự nguyện. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, làn sóng thất nghiệp đã thúc đẩy sự ra đời BHTN của một số quốc gia.
Trong những năm 30, do hậu quả từ cuộc 9 khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933), nạn thất nghiệp đã tới mức trầm trọng khiến cho các quốc gia phải quan tâm đến người thất nghiệp một cách có tổ chức và hệ thống hơn. Từ năm 1934, có thêm một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về BHXH và BHTN, chẳng hạn: ở Mỹ năm 1935, Canada vào năm 1939, thiết lập chế độ BHTN bắt buộc [33]. Ngoài ra còn có Thụy Điển và Tân Tây Lan thiết lập chế độ BHTN tự nguyện. Những năm đầu của thập kỷ 40, bốn nước Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Australia, Hy Lạp cũng đã ban hành TCTN áp dụng chế độ bắt buộc.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đặc biệt là sau khi có Công ước số102, năm 1952 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì một loạt nước trên thế giới đã triển khai BHTN và TCTN. Theo thống kê, đến năm 1999 đã có 69 nước thực hiện BHTN, đến năm 2009 số nước thực hiện BHTN là 78 nước. Việc quản lý quỹ BHTN thường do Bộ Lao động quản lý như: Cộng hòa liên bang Đức , Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật, Hungari, Đan Mạch,… Tuy nhiên, có nước lại do cơ quan BHTN quản lý như: Pháp, hoặc có nước do cơ quan bảo đảm xã hội quản lý như: Hà Lan, Ba Lan… Nhìn chung, đa phần ở các nước hiện nay quản lý quỹ BHTN do cơ quan lao động đảm nhận [35]. Tại Việt Nam, BHTN là một chính sách nằm trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Nhà nước có tác động trực tiếp đến chính bản thân NLĐ.
Chính sách BHTN có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2009. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp - Đối với NLĐ: BHTN vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm thông qua việc trả TCTN vừa tạo cơ hội để họ có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động. Tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho NLĐ khi lâm vào tình trạng mất việc làm, góp phần làm giảm khó khăn trước mắt trong cuộc sống NLĐ khi họ bị mất việc làm, giúp họ có cuộc sống ổn định. 10 - Đối với NSDLĐ: Gánh nặng tài chính của họ sẽ được san sẻ khi những NLĐ tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết chế độ cho NLĐ.
Đặc biệt, trong những thời kỳ khó khăn, buộc phải thu hẹp sản xuất, nhiều NLĐ thất nghiệp. - Đối với nhà nước: Ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt chi phí khi nạn thất nghiệp gia tăng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tạo sự chủ động về tài chính cho nhà nước. Mặt khác khi có TCTN, vấn đề căng thẳng xã hội sẽ không xảy ra, nhà nước không còn phải lo đối phó với các cuộc biểu tình, không phải chi nhiều ngân sách để giải quyết các tệ nạn xã hội, tội phạm do nguyên nhân thất nghiệp gây nên. Tóm lại, BHTN không chỉ là một chỗ dựa vật chất và tinh thần vững chắc cho NLĐ khi thất nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết khó khăn cho NSDLĐ và nhà nước.
NSDLĐ sẽ được trút bớt gánh nặng tài chính giải quyết chế độ cho NLĐ bị sa thải. Đặc biệt, thời buổi kinh tế khó khăn tạo nên sức ép thu hẹp nhân công lên các nhà sản xuất. Đối với ngân sách nhà nước, BHTN cũng góp phần không nhỏ nhằm giảm bớt chi phí khi nạn thất nghiệp gia tăng. Sau những lợi ích trên thì BHTN vừa đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, vừa đóng vai trò tối ưu đối với Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề xã hội.
Nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp Bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc chung của pháp luật an sinh xã hội, BHTN cũng có những nguyên tắc đặc thù riêng. Một là, BHTN kết hợp chế độ trợ cấp tạm thời với chế độ giải quyết việc làm cho người thất nghiệp. Mỗi NLĐ khi tham gia BHTN, đều có quyền lợi được hưởng TCTN, hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm để sớm tìm được công việc mới phù hợp với năng lực, trình độ của mình, ổn định kinh tế. Ngoài ra 11 còn được hỗ trợ học nghề, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm.
Quan trọng hơn nữa là có các biện pháp để hỗ trợ NLĐ tham gia học nghề để nâng cao trình độ kỹ năng nghề hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Điều này thể hiện tính xã hội vô cùng sâu sắc phù hợp với đường lối phát triển kinh tế đi liền với hài hòa chính sách về việc làm cho NLĐ. Hai là, BHTN phải vừa bù đắp thu nhập, vừa tạo động lực tích cực cho người thất nghiệp chủ động tìm cơ hội trở lại làm việc. Chính sách BHTN với mục tiêu hỗ trợ NLĐ bảo vệ vị trí việc làm, duy trì việc làm, phòng tránh thất nghiệp, bên cạnh đó, nếu gặp rủi ro về việc làm, chính sách BHTN phải có các biện pháp nhằm thay thế, bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi thất nghiệp; tư vấn, giới thiệu việc làm để người thất nghiệp nhanh chóng tìm được việc làm mới, đồng thời, trong thời gian hưởng TCTN, NLĐ còn được hưởng chế độ BHYT.
Ba là, quỹ BHTN phải được hình thành theo nguyên tắc ba bên cùng có trách nhiệm. Ba bên đó là: NLĐ, NSDLĐ và nhà nước. Đây cũng chính là nguyên tắc đặc trưng của BHTN. NLĐ và NSDLĐ phải đóng cho Quỹ BHTN và được tính trên cơ sở tiền lương của NLĐ.
Ở Việt Nam, mức đóng BHTN và trách nhiệm đóng BHTN được quy định như sau: + NLĐ đóng bằng 1% tiền lương tháng; + NSDLĐ đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những NLĐ đang tham gia BHTN; + Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo BHTN của những NLĐ đang tham gia BHTN và do ngân sách trung ương bảo đảm. Tổng quan về quản lý nhà nƣớc về bảo hiểm thất nghiệp 1. Quản lý nhà nước QLNN là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.