Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Hoàng Minh Tuấn, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, mang tên "Quản lý nhà nước về viên chức từ thực tiễn các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh", chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, mã số 62 38 01 02, người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Minh Đoan. Luận án được hoàn thành năm 2017, bảo vệ trong khuôn khổ chương trình đào tạo tiến sĩ luật học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả xuất phát từ bối cảnh Nhà nước Việt Nam liên tục tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia và tăng cường hiệu quả hoạt động của khu vực dịch vụ công. Luật Viên chức được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 15/11/2010 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012, cùng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành, đã tác động lớn đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, tác giả nhận định rằng trong một thời gian dài kể từ khi ban hành Luật Viên chức, việc triển khai các quy định vẫn còn lúng túng, vướng mắc do các quy định chưa cụ thể về ranh giới giữa viên chức và công chức, về nội dung quản lý nhà nước về viên chức. Cơ chế tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức chậm đổi mới, chưa tương thích với cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL); nhận thức về hoạt động nghề nghiệp của viên chức chưa được cập nhật kịp thời.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định rõ: tính đến năm 2010, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với viên chức trong các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với tư cách là một chủ thể mang tính chất đặc thù.
Mục tiêu và câu hỏi/giả thuyết nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về viên chức nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với đội ngũ viên chức trong các ĐVSNCL thông qua nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn từ các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Luận án xây dựng năm câu hỏi nghiên cứu có kèm giả thuyết tương ứng:
- Những vấn đề lý luận về quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công như thế nào? Quản lý viên chức trong các ĐVSNCL có đặc thù gì? — Giả thuyết: lý luận đã được hệ thống hóa ở các chuyên ngành khác nhưng chưa được nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ luật học để làm rõ đặc trưng của quản lý viên chức so với quản lý công chức.
- Những yếu tố nào chi phối hoạt động quản lý nhà nước về viên chức? — Giả thuyết: quản lý viên chức bị chi phối bởi các yếu tố chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, công nghệ và cơ chế quản lý.
- Viên chức trong các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCSHCM có đặc thù gì? — Giả thuyết: viên chức tại đây có tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm cao, tính sáng tạo và rủi ro trong hoạt động nghề nghiệp.
- Quản lý nhà nước về viên chức trong các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn có những hạn chế, vướng mắc gì? — Giả thuyết: pháp luật hoặc chưa có quy định cụ thể hoặc không thống nhất, chồng chéo, phân tán trong nhiều văn bản; chưa quy định rõ phương pháp xác định viên chức, hệ thống tiêu chuẩn, chế độ đánh giá, thi tuyển, thi thăng hạng.
- Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về viên chức phải đảm bảo các yêu cầu gì? — Giả thuyết: giải pháp phải tuân thủ quy luật kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước đối với viên chức trong các ĐVSNCL và pháp luật về quản lý viên chức ở Việt Nam. Phạm vi không gian được giới hạn tại các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian gắn với quá trình triển khai Luật Viên chức năm 2010, với số liệu khảo sát được thu thập đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu được điểm lại
Tác giả phân nhóm các công trình liên quan thành ba hướng chính:
Hướng thứ nhất: lý luận chung về quản lý nhà nước đối với viên chức trong ĐVSNCL. Tiêu biểu có Luận án tiến sĩ luật học "Thể chế quản lý viên chức khoa học công nghệ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay" của Lê Thị Thu Hằng (2014), phân tích và so sánh khái niệm viên chức, cán bộ, công chức; đánh giá quyền và nghĩa vụ của viên chức khoa học - công nghệ cùng kinh nghiệm quốc tế về xây dựng thể chế quản lý nhóm viên chức này. Bài viết "Một số vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của viên chức, những việc viên chức không được làm" của TS.Vũ Đức Khiển (Kỷ yếu Hội thảo "Pháp luật về viên chức", Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Huế, 11-12/10/2010), và bài viết "Khái niệm viên chức trong quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam" của Nguyễn Phương Thủy (2010) đã hệ thống hóa sự thay đổi khái niệm viên chức qua các thời kỳ pháp lý. Cuốn sách "Quản lý khu vực công" (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 1998) của GS.TS Vũ Huy Từ làm rõ khái niệm, hoạt động và các xu hướng cải cách khu vực công. Các tài liệu quốc tế gồm Christian Batal, "Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2 tập, 2002) và John W Boudreau, "Quản trị nguồn nhân lực" (Nxb Thống kê, 2005), cung cấp cơ sở lý thuyết và phương pháp tổ chức điều hành nguồn nhân lực hiện đại. Tham luận của học giả Anne Richmond (Dự án hỗ trợ thực hiện chính sách – PIAP, Canada) tại Hội thảo "Pháp luật về viên chức", Huế, 11-12/03/2010, giới thiệu mô hình quản lý viên chức khu vực công và khu vực công mở rộng của tỉnh Ontario và British Columbia, Canada.
Hướng thứ hai: thực tiễn quản lý viên chức trong ĐVSNCL nói chung và tại Trung ương Đoàn. Bài viết "Một số ý kiến về việc sử dụng và quản lý viên chức tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ KH&CN - Thực trạng và giải pháp" của Đoàn Năng (Kỷ yếu Hội thảo "Pháp luật về viên chức", 2010). Đề tài "Tổ chức đào tạo theo chương trình mới của Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam" (2010) của PGS.TS Vũ Hồng Tiến và đề tài "Tổ chức đào tạo cán bộ làm công tác thanh thiếu niên theo chương trình giáo dục đại học tại Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam" (2012) của Nguyễn Hải Đăng phân tích đội ngũ giảng viên tại Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam. Báo cáo tổng hợp dự án "Điều tra thực trạng đề xuất giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập" do Viện Khoa học tổ chức nhà nước – Bộ Nội vụ chủ trì (2013) đánh giá thực trạng viên chức trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông. Luận văn thạc sĩ Hành chính công "Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế của Lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam" (2009) của An Đình Doanh cung cấp cơ sở lý luận về sự cần thiết của quản lý nhà nước. Đề tài "Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đội ngũ viên chức nhà nước trong khu vực công của một số nước trên thế giới" (2009) do Lương Quang Luyện chủ nhiệm cũng được tác giả tham khảo.
Hướng thứ ba: đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý viên chức. Luận án tiến sĩ kinh tế "Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế" của Trần Anh Tuấn (2007) hệ thống hóa lý luận về công chức và thể chế quản lý trong thời kỳ hội nhập. Đề tài "Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" (2008) của Đỗ Thu Hằng và Đề tài cấp cơ sở "Quản lý viên chức trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ, thực trạng và giải pháp" (2015) của ThS. Đặng Thị Mai Hương cung cấp cơ sở lý luận về các nội dung quản lý viên chức. Chuyên đề "Thu thập, rà soát, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành quy định về đội ngũ viên chức" (2003) của Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước – Bộ Nội vụ đánh giá lại thể chế và chế độ tiền lương, đãi ngộ của viên chức từ mốc năm 1998.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận định rằng các công trình trên hoặc tiếp cận từ góc độ kinh tế học, hành chính học, xã hội học, hoặc chỉ nghiên cứu một nhóm viên chức cụ thể (giảng viên, viên chức khoa học công nghệ), hoặc chỉ dừng ở việc hệ thống hóa văn bản mà chưa luận giải nguyên nhân của các hạn chế trong thực tiễn quản lý. Cho đến thời điểm thực hiện nghiên cứu, chưa có công trình nào trong chuyên ngành luật học nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về quản lý nhà nước đối với viên chức trong các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với tư cách là một chủ thể có tính chất đặc thù trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết và khung phân tích
Luận án sử dụng hai lý thuyết nghiên cứu được tác giả nêu rõ: lý thuyết về thông tin và lý thuyết về tính công khai, minh bạch. Bên cạnh đó, luận án được thực hiện trên nền tảng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp quyền. Các quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, và về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được sử dụng như khung định hướng chính trị pháp lý cho toàn bộ luận án.
Tác giả tiếp cận luận án từ chuyên ngành Luật Hành chính và Luật Hiến pháp để nghiên cứu những vấn đề quản lý nhà nước về viên chức và pháp luật quản lý viên chức trong các ĐVSNCL.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng hỗn hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và thực địa:
- Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải: được sử dụng xuyên suốt để nghiên cứu các vấn đề lý luận, đánh giá và bình luận các quy định pháp luật về quản lý viên chức.
- Phương pháp tổng hợp: dùng khi đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về viên chức để rút ra kết luận tổng quan, quan điểm và đề xuất kiến nghị.
- Phương pháp so sánh luật học: phân tích quy định pháp luật về quản lý viên chức trong mối tương quan với quy định về công chức và với pháp luật nước ngoài; so sánh kinh nghiệm quản lý viên chức của một số nước và Việt Nam; so sánh hệ thống thể chế quản lý viên chức qua các giai đoạn lịch sử.
- Phương pháp điều tra xã hội học: thu thập đánh giá về thực trạng quản lý viên chức của các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
- Phương pháp thống kê: thu thập thông tin liên quan đến các nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ viên chức.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (Luật Viên chức 2010, Luật Cán bộ, công chức 2008, Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 và bản sửa đổi 2003, Nghị định số 55/2012/NĐ-CP, Nghị định số 41/2012/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP); kết quả điều tra khảo sát thực tiễn tại các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn; số liệu thống kê về viên chức năm 2015; các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố; tài liệu từ Hội thảo khoa học "Pháp luật về viên chức" do Ủy ban Pháp luật Quốc hội tổ chức tại Huế năm 2010.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến luận án
Chương này tổng thuật các công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến quản lý nhà nước về viên chức trong ĐVSNCL, phân nhóm theo ba hướng như đã nêu. Tác giả đánh giá rằng các công trình trước chủ yếu dừng ở việc hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật hoặc nghiên cứu một nhóm viên chức cụ thể theo từng lĩnh vực ngành, chưa có phân tích sâu về toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước đối với viên chức trong ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn với tư cách là chủ thể đặc thù. Chương cũng xác định cơ sở lý thuyết (lý thuyết về thông tin; lý thuyết về tính công khai, minh bạch), xây dựng năm câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, đồng thời xác định cách tiếp cận từ chuyên ngành Luật Hành chính và Luật Hiến pháp.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với viên chức và pháp luật về quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Đây là chương xây dựng khung lý luận toàn diện. Tác giả làm rõ khái niệm ĐVSNCL theo Điều 9 Luật Viên chức 2010 và Nghị định số 55/2012/NĐ-CP; phân biệt ĐVSNCL với cơ quan hành chính nhà nước theo các đặc điểm cơ bản về thành lập, chức năng, nguồn kinh phí và tính chất hoạt động. Luận án theo dõi sự phát triển khái niệm viên chức từ Hiến pháp 1992, Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998, bản sửa đổi 2003 (Nghị định số 116/2003/NĐ-CP lần đầu gọi là "viên chức"), Luật Cán bộ, công chức 2008 đến Luật Viên chức 2010 (Điều 2, Chương I: "Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại ĐVSNCL theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật"). Nghị định số 41/2012/NĐ-CP về vị trí việc làm trong ĐVSNCL được phân tích như căn cứ xác định số lượng người làm việc và cơ cấu viên chức.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với viên chức trong ĐVSNCL được tác giả xây dựng theo nghĩa hẹp: là quá trình tác động có mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở luật định đối với đội ngũ viên chức trong các ĐVSNCL, theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhằm đạt được mục tiêu, hiệu quả của ĐVSNCL được giao thẩm quyền quản lý viên chức, đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Nội dung quản lý bao gồm: quy hoạch kế hoạch phát triển đội ngũ; tuyển dụng, sử dụng; đào tạo, bồi dưỡng; chính sách tiền lương và đãi ngộ; đánh giá, khen thưởng, kỷ luật; thống kê; thanh tra, kiểm tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo. Hệ thống chủ thể quản lý được xác định từ Chính phủ (thống nhất quản lý), Bộ Nội vụ (thực hiện quản lý nhà nước về viên chức), Bộ Tài chính (cơ chế tài chính), Bảo hiểm xã hội Việt Nam (chế độ sau hoạt động nghề nghiệp) đến các bộ chuyên ngành, Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ và bản thân các ĐVSNCL.
Tác giả phân tích bốn điều kiện bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước đối với viên chức: (1) bảo đảm tính chính trị — sự lãnh đạo của Đảng; (2) bảo đảm về kinh tế; (3) bảo đảm các yếu tố về pháp lý; (4) bảo đảm phù hợp với hội nhập quốc tế. Chương cũng so sánh mô hình quản lý viên chức với kinh nghiệm của Pháp (phân biệt giữa đơn vị do luật công điều chỉnh và đơn vị do luật tư điều chỉnh; Bộ Ngân sách quản lý biên chế theo khoán vị trí việc làm) và Nhật Bản (không phân biệt công chức và viên chức, tất cả người làm việc trong khu vực công đều là công chức).
Chương 3: Thực trạng viên chức và quản lý nhà nước về viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Đây là chương trọng tâm thực nghiệm. Dữ liệu được tổng hợp qua hai bảng số liệu chính:
| Bảng |
Nội dung |
| Bảng 3.1 |
Tình hình đội ngũ viên chức của khối đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn năm 2015 |
| Bảng 3.2 |
Khảo sát kết quả điều tra về công tác tuyển dụng và sử dụng viên chức tại các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (trang 82) |
Tác giả dẫn chiếu cụ thể đến kết quả nghiên cứu trước: PGS.TS Vũ Hồng Tiến (2010) đánh giá Phân viện Miền Nam của Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam có đội ngũ giảng viên "chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng và cơ cấu chưa hợp lý"; Học viện có 85 giảng viên cơ hữu trong tổng số 122 cán bộ, có thể đáp ứng yêu cầu giảng dạy cho 1.700 người học theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Đánh giá chung của tác giả về thực trạng chỉ ra các ưu điểm bước đầu trong triển khai Luật Viên chức và đồng thời xác định các hạn chế cụ thể: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức còn chồng chéo, phân tán; công tác tuyển dụng, sử dụng, đánh giá viên chức chậm đổi mới; cơ chế tự chủ chưa được thực hiện đồng bộ trong các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn. Nguyên nhân khách quan gắn với bối cảnh chuyển đổi cơ chế; nguyên nhân chủ quan liên quan đến nhận thức chưa đầy đủ về đặc thù của quản lý viên chức.
Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Chương này đề xuất định hướng và giải pháp, gắn với Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2011 của Bộ Chính trị về tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cùng mục tiêu cải cách chính sách tiền lương và nâng cao năng lực hệ thống chính trị. Giải pháp được phân thành hai nhóm: (1) nhóm giải pháp chung đối với các ĐVSNCL từ thực tiễn tại Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; (2) nhóm giải pháp riêng đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Kết quả và những đóng góp mới
Tác giả tự nêu hai nhóm đóng góp mới chủ yếu:
Về lý luận: Luận án góp phần phát triển và bổ sung cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với viên chức trong các ĐVSNCL, cụ thể là: làm rõ đặc điểm quản lý nhà nước đối với viên chức trong các ĐVSNCL và trong ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; phân tích bốn điều kiện bảo đảm quản lý nhà nước về viên chức trong các ĐVSNCL — (1) tính chính trị; (2) kinh tế; (3) pháp lý; (4) hội nhập quốc tế. Luận án cũng đề xuất xây dựng khái niệm quản lý nhà nước đối với viên chức trong ĐVSNCL từ góc độ chuyên ngành luật học, phân biệt rõ với quản lý công chức.
Về thực tiễn: Luận án lập luận quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đội ngũ viên chức nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong các ĐVSNCL. Các đề xuất được chia thành hai nhóm giải pháp (chung và riêng) và hướng trực tiếp vào quá trình thi hành Luật Viên chức năm 2010 cùng các văn bản hướng dẫn. Luận án cũng đề xuất hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, cơ chế thi tuyển và thi thăng hạng, cơ chế đánh giá viên chức gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ, chính sách tiền lương linh hoạt gắn với tài năng và năng lực.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án không trình bày phần riêng về hạn chế của nghiên cứu. Tuy nhiên, xét từ phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định, một số giới hạn có thể nhận ra: nghiên cứu tập trung vào các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh — một chủ thể có đặc thù tổ chức chính trị - xã hội — nên khả năng khái quát hóa sang toàn bộ hệ thống ĐVSNCL quốc gia còn cần được kiểm chứng thêm. Số liệu điều tra khảo sát chủ yếu tính đến năm 2015; các thay đổi trong cơ chế tự chủ của ĐVSNCL sau thời điểm này (đặc biệt sau Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2017) không nằm trong phạm vi của luận án. Một số đề tài như "Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam" (2008) của Đỗ Thu Hằng bản thân đã được tác giả nhận xét là "nghiên cứu đã khá lâu, khi chưa có những quy định mới về các ĐVSNCL và Luật Viên chức", cho thấy tính thời sự của pháp luật viên chức là yếu tố cần liên tục cập nhật trong các nghiên cứu tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Hiến pháp, Hành chính học, Quản lý công: phần Chương 2 xây dựng khung lý luận về viên chức và quản lý nhà nước đối với viên chức từ góc độ luật học, cùng phần so sánh kinh nghiệm quốc tế (Pháp, Nhật Bản, Canada), có giá trị tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu lý luận pháp luật về công vụ.
- Cán bộ làm chính sách tại Bộ Nội vụ, Ban Tổ chức Trung ương Đoàn và các cơ quan quản lý ĐVSNCL: phần thực trạng (Chương 3) và phần giải pháp (Chương 4) cung cấp căn cứ thực tiễn và đề xuất cụ thể cho việc hoàn thiện quy chế tuyển dụng, đánh giá, đào tạo và bố trí viên chức.
- Các ĐVSNCL có tính chất tương đồng với các đơn vị thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (đơn vị sự nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội): luận án cung cấp một mô hình khảo sát và đánh giá thực tiễn có thể được điều chỉnh áp dụng cho các bối cảnh tương tự.
- Người nghiên cứu lịch sử pháp luật về viên chức Việt Nam: phần Chương 1 tổng thuật chi tiết quá trình phát triển các văn bản pháp luật về viên chức từ thời kỳ Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 đến Luật Viên chức 2010.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt viên chức với công chức như thế nào theo pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu?
Theo Luật Viên chức 2010 (Điều 2, Chương I), viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại ĐVSNCL theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL. Điểm khác biệt cơ bản so với công chức là: viên chức không thực hiện chức năng quản lý nhà nước hay quyền lực công; hoạt động nghề nghiệp của viên chức mang tính chuyên môn thuần túy (giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp dịch vụ); quan hệ lao động của viên chức được xác lập thông qua hợp đồng làm việc theo vị trí việc làm, không mang tính lâu dài như công chức.
2. Bốn điều kiện bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước đối với viên chức trong ĐVSNCL mà luận án xác định là gì?
Tác giả xác định bốn điều kiện: (1) bảo đảm tính chính trị — phải có sự lãnh đạo của Đảng; (2) bảo đảm về kinh tế — có nguồn lực tài chính phù hợp; (3) bảo đảm các yếu tố về pháp lý — hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải thống nhất, khả thi; (4) bảo đảm phù hợp với hội nhập quốc tế — cơ chế quản lý viên chức phải tương thích với xu hướng cải cách hành chính quốc tế.
3. Chương 3 dùng những công cụ thu thập dữ liệu nào để đánh giá thực trạng viên chức tại Trung ương Đoàn?
Tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp thống kê, thể hiện qua Bảng 3.1 (tình hình đội ngũ viên chức của khối ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn năm 2015) và Bảng 3.2 (kết quả điều tra khảo sát về công tác tuyển dụng và sử dụng viên chức tại các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn, trang 82). Ngoài ra, tác giả sử dụng các số liệu từ các đề tài trước, trong đó có số liệu Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam có 85 giảng viên cơ hữu trong tổng số 122 cán bộ.
4. Luận án đề xuất hai nhóm giải pháp nào và điểm khác biệt giữa hai nhóm là gì?
Tác giả chia giải pháp thành: (1) nhóm giải pháp chung đối với các ĐVSNCL, rút ra từ thực tiễn tại Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh — nhóm này hướng đến việc hoàn thiện pháp luật về quản lý viên chức trên phạm vi toàn quốc; (2) nhóm giải pháp riêng đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh — nhóm này mang tính đặc thù, gắn với chức năng chính trị - xã hội và cơ cấu tổ chức đặc thù của hệ thống Đoàn.
5. Nghị quyết nào của Đảng được tác giả dẫn chiếu như căn cứ chính trị cho các giải pháp trong Chương 4?
Tác giả dẫn chiếu Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2011 của Bộ Chính trị về tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, với mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ, thu hút người có đức, có tài vào hoạt động công vụ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đồng thời tiết kiệm chi thường xuyên và cải cách chính sách tiền lương.
Kết luận
Luận án của Hoàng Minh Tuấn là công trình nghiên cứu chuyên ngành Luật Hành chính và Luật Hiến pháp, xây dựng khung lý luận toàn diện về quản lý nhà nước đối với viên chức trong ĐVSNCL và kiểm chứng lý luận đó qua thực tiễn tại các ĐVSNCL thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Luận án có đóng góp nhất định trong việc hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm và nội dung quản lý nhà nước về viên chức từ góc độ luật học, đồng thời phân tích bốn điều kiện bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Dữ liệu thực nghiệm thu thập đến năm 2015 cho phép đánh giá thực trạng tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức tại một chủ thể cụ thể, từ đó hình thành cơ sở cho hai nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật. Luận án có giá trị tham khảo cho nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành luật công và hành chính học, cũng như cán bộ làm chính sách trong các cơ quan quản lý ĐVSNCL thuộc hệ thống tổ chức chính trị - xã hội.