CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý đội ngũ viên chức trong các ĐVSNCL là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, quản lý trên thế giới dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau: kinh tế học, luật học, xã hội học, hành chính học… Tuy nhiên, có rất ít đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu riêng về vấn đề quản lý đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, vì đây là đặc thù của chế độ công vụ ở Việt Nam. Tại Việt Nam, quản lý nhà nước về viên chức trong các ĐVSNCL là nội dung được đề cập đến nhiều trong các hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý thực tiễn hiện nay. Nhưng các hoạt động này mới dừng lại ở việc xây dựng, nghiên cứu, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức trong các ĐVSNCL mà chưa có hoạt động nào nghiên cứu sâu về vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước trong các ĐVSNCL, từ đó hoàn thiện thể chế quản lý viên chức nói chung và trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói riêng (tính đến năm 2010).
Liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước về viên chức trong các ĐVSNCL đã có một số đề tài, bài báo, luận án, luận văn hoặc một số công trình nghiên cứu, đề cập theo các hướng khác nhau, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Tác giả luận án xin được tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình theo một số vấn đề cơ bản của luận án. Các công trình nghiên cứu lý luận chung về quản lý nhà nước đối với viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập Trong Luận án tiến sĩ luật học “Thể chế quản lý viên chức khoa học 8 công nghệ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của Lê Thị Thu Hằng năm 2014, tác giả đã đã phân tích và so sánh các khái niệm viên chức, cán bộ, công chức, để từ đó đi sâu đánh giá một số vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của viên chức khoa học - công nghệ. Luận án cũng đã làm sáng tỏ lý luận về thể chế quản lý viên chức khoa học - công nghệ như: Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thể chế quản lý viên chức khoa học - công nghệ; những yêu cầu và tiêu chí của thể chế quản lý viên chức khoa học - công nghệ; kinh nghiệm xây dựng thể chế quản lý viên chức khoa học - công nghệ của một số nước trên thế giới.Luận án cũng đã phân tích, đánh giá sự hình thành và phát triển của thể chế quản lý viên chức khoa học - công nghệ, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thể chế quản lý viên chức khoa học - công nghệ và rút ra kết luận về thực trạng thể chế quản lý viên chức khoa học - công nghệ.
Từ đó, đưa ra các quan điểm, kiến nghị phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng thể chế quản lý viên chức khoa học - công nghệ ở nước ta hiện nay. Bài viết “Một số vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của viên chức, những việc viên chức không được làm” của TS.Vũ Đức Khiển, Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật về viên chức”, Ủy ban Pháp luật Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam, Huế, 11-12/10/2010 cũng đã phân tích và so sánh các khái niệm viên chức, cán bộ, công chức, để từ đó đi sâu đánh giá một số vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của viên chức. Tác giả Nguyễn Phương Thủy trong bài viết “Khái niệm viên chức trong quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam”, 2010, đã nêu khái niệm viên chức và sự phát triển khái niệm qua các thời kỳ, khái niệm “viên chức nhà nước” thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, đồng nghĩa với “quan chức”. Sau Cách mạng tháng Tám, khái niệm cán bộ, công chức, viên chức và các quy chế áp dụng cho các đối tượng này có sự khác biệt nhất định trong từng thời kỳ.
Có thời kỳ, phạm vi quy định những người là công chức rất hẹp, chỉ 9 những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan tòa án, kiểm sát…Từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, ở nước ta gần như không tồn tại khái niệm “công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức. Các bài viết đã khái quát lại quá trình hình thành các văn bản pháp luật về quản lý cán bộ, công chức, viên chức từ thời kỳ đầu dựng nước, đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước cho đến nay. Do đặc điểm và điều kiện của nước ta, các quy định về quản lý công chức, viên chức đã được áp dụng chung trong một thời gian dài, chưa tính đến tính chất, đặc điểm đặc thù lao động của cán bộ, của công chức và của viên chức. Năm 1998, khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị- xã hội cũng là đối tượng điều chỉnh và thực hiện theo các quy định của Pháp lệnh.
Mọi nội dung cơ bản liên quan đến tiêu chuẩn chức danh, ngạch bậc, tuyển dụng, điều động, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thăng tiến, chế độ tiền lương, đãi ngộ, thôi việc, nghỉ hưu và cơ chế quản lý đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước đều được quy định và thực hiện giống như đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước và tổ chức chính trị- xã hội. Năm 2003, Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung đã bước đầu phân định cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị- xã hội với cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp (sau đó tại Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi chung những cán bộ, công chức này là viên chức). Đây là căn cứ và điều kiện để từ năm 2003 đến nay, Nhà nước từng bước tiến hành đổi mới cơ chế quản lý viên chức theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm. 10 Luận văn thạc sĩ Hành chính công “Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế của Lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam” năm 2009 của tác giả An Đình Doanh cũng đã đề cập đến những vấn đề về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế của Lực lượng thanh niên xung phong như: khái niệm và sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động này, các yếu tố chi phối đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế của Lực lượng thanh niên xung phong… Đây là những cơ sở lý luận về quản lý nhà nước để tác giả tham khảo, bổ sung vào lý luận về quản lý nhà nước trong các ĐVSNCL.
Đề tài: “Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đội ngũ viên chức nhà nước trong khu vực công (giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ) của một số nước trên thế giới” do tác giả Lương Quang Luyện chủ nhiệm đề tài năm 2009 viết về kinh nghiệm quản lý viên chức nhà nước nhưng không phải của Việt Nam mà của một số nước trên thế giới; nhưng đề tài đã phần nào đề cập liên quan đến kinh nghiệm thực tiễn quản lý viên chức nói chung. Cuốn sách “Quản lý khu vực công”, Nxb Khoa học và Kỹ thuật năm 1998 của GS.TS Vũ Huy Từ là một công trình nghiên cứu khoa học về khu vực công và quản lý khu vực công. Tác giả đã làm rõ các thuật ngữ thế nào là khu vực công, các hoạt động của khu vực công, phân biệt khu vực công với khu vực tư nhân, vai trò của khu vực công đối với sự phát triển kinh tế, xã hội; những nội dung cơ bản về hoạt động quản lý khu vực công và những xu hướng cải cách và hoàn thiện việc quản lý khu vực công của các quốc gia trên thế giới. Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập tới vấn đề quản lý nguồn nhân lực.
Dưới góc độ lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, Christian Batal trong cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” (Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2 tập, năm 2002) đã trình bày cơ sở lý thuyết và đưa ra các phương pháp tổ chức điều hành hiện đại để điều hành nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước có hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy cải 11 cách, đổi mới nền hành chính của các quốc gia. John W Boudreau trong tác phẩm“Quản trị nguồn nhân lực” (Nxb Thống kê, năm 2005) đưa ra một loạt các vấn đề về quản lý nguồn nhân lực như: phương pháp chuẩn đoán trong quản lý nguồn nhân lực; những điều kiện bên ngoài tác động đến quản lý nhân sự; những điều kiện tổ chức; các đặc điểm của công nhân viên; lập kế hoạch và đánh giá; chiêu mộ từ bên ngoài; tuyển chọn công nhân viên từ bên ngoài… Đây là những mắt xích quan trọng trong công tác quản lý nhân sự không chỉ bổ ích với các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa lớn trong việc quản lý đội ngũ viên chức trong khu vực nhà nước nhằm đạt hiệu quả cao hơn. “The use of labor and employment in the public sector expansion - Province of British Columbia” “Người sử dụng lao động và việc làm trong khu vực công mở rộng - Tỉnh bang British Columbia” của học giả Anne Richmond, một chuyên gia đến từ Dự án hỗ trợ thực hiện chính sách (PIAP) của Canada, trình bày tại Hội thảo khoa học “Pháp luật về viên chức” do Ủy ban pháp luật của Quốc hội và Dự án hỗ trợ thực hiện chính sách (PIAP) phối hợp tổ chức tại Huế trong hai ngày 11-12/03/2010, đã đem đến những kinh nghiệm quản lý viên chức trong khu vực công (Chính phủ và người sử dụng lao động của Chính phủ) và khu vực công mở rộng (y tế, giáo dục, dịch vụ xã hội) ở Canada; trường hợp cụ thể là tỉnh Ontario và British Columbia.