Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với hơn 70% dân số sinh sống và làm việc gắn liền với khu vực nông thôn. Tuy nhiên, hoạt động nhập khẩu nông sản, đặc biệt là mặt hàng rau quả từ Trung Quốc, luôn ghi nhận giá trị rất lớn với kim ngạch ổn định trong khoảng 150 đến 200 triệu USD mỗi năm trong giai đoạn 2009 - 2014. Sự gia tăng này diễn ra mạnh mẽ kể từ khi Việt Nam thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan theo Chương trình thu hoạch sớm thuộc Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc, chính thức đưa thuế suất nhập khẩu rau quả tươi về 0% từ ngày 1/1/2008.

Thực tế mở cửa thị trường đã đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với nền nông nghiệp trong nước. Nguồn rau quả từ Trung Quốc có sản lượng dồi dào, chủng loại tương đồng, giá thành rẻ và mẫu mã bắt mắt đã tạo ra áp lực cạnh tranh khốc liệt đối với nông sản nội địa. Đáng lo ngại hơn, tình trạng lạm dụng hóa chất bảo quản và tồn dư thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép liên tục được ghi nhận, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của hơn 90 triệu người tiêu dùng. Trong khi đó, hệ thống quản lý nhà nước từ khâu kiểm dịch, kiểm tra chất lượng, chứng nhận xuất xứ đến chống gian lận thương mại tại các cửa khẩu biên giới vẫn bộc lộ nhiều lỗ hổng và thiếu sự liên kết đồng bộ giữa các bộ ngành.

Đề tài nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng quản lý nhà nước đối với rau quả nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam trên phạm vi không gian tại các cửa khẩu trọng điểm như Tân Thanh, Hữu Nghị, Lào Cai và hệ thống phân phối nội địa trong giai đoạn 2009 - 2014, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện đến năm 2020. Ý nghĩa nghiên cứu hướng tới việc thiết lập cơ sở khoa học nhằm nâng tỷ lệ kiểm định an toàn thực phẩm thực tế từ mức 1 - 2% lên mức chuẩn 10%, kiểm soát 100% các lô hàng có nguy cơ cao và bảo vệ bền vững thị trường nông sản Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Quản lý thương mại quốc tế (A Theory of Managed Trade của Kyle Bagwell và Robert W. Staiger, 1998), khẳng định vai trò can thiệp tất yếu của Nhà nước thông qua các công cụ chính sách nhằm duy trì cân bằng cán cân thương mại và bảo vệ nền sản xuất non trẻ. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết về Rào cản kỹ thuật và Kiểm dịch an toàn sinh học dựa trên 29 văn bản pháp lý của Tổ chức Thương mại Thế giới, đặc biệt là Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và Hiệp định về các Biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS).

Mô hình nghiên cứu làm sáng tỏ 4 khái niệm then chốt: Quản lý nhà nước về nhập khẩu hàng hóa, Rào cản kỹ thuật TBT, Biện pháp vệ sinh dịch tễ SPS và Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa Mẫu E (C/O Form E). Nhà nước thực thi quyền lực công thông qua hệ thống công cụ thuế quan, hạn ngạch thuế quan, thủ tục hải quan điện tử VNACCS và các tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc nhằm định hướng luồng hàng hóa, ngăn ngừa tổn hại kinh tế và bảo vệ an toàn sinh học quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2007 - 2015 từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Rau quả Việt Nam và cơ sở dữ liệu cam kết thuế quan của Tổ chức Thương mại Thế giới. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên sâu với cỡ mẫu gồm 25 chuyên gia quản lý thuộc Chi cục Kiểm dịch thực vật Vùng 7 (Lạng Sơn), Vùng 8 (Lào Cai), cán bộ hải quan cửa khẩu và đại diện 15 doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu rau quả.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được áp dụng nhằm tiếp cận đúng các đối tượng trực tiếp thực thi thủ tục biên mậu và kiểm định an toàn thực phẩm. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích so sánh định tính và chuỗi thời gian là để lượng hóa chính xác biến động kim ngạch, thị phần, đồng thời so sánh đối chiếu với kinh nghiệm quản lý của Nhật Bản và Thái Lan. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực thi chính sách thuế quan 0% tạo áp lực nhập khẩu cực lớn. Kể từ ngày 1/1/2008, thuế nhập khẩu rau quả tươi từ Trung Quốc đã giảm từ mức 10 - 30% về 0% theo cam kết trong Hiệp định ACFTA. Trong khi đó, biểu thuế MFN áp dụng cho các quốc gia thành viên WTO khác vẫn duy trì ở mức cao từ 10% đến 40% cho tới tận năm 2012. Chênh lệch thuế suất này đã biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ mạnh mẽ nông sản Trung Quốc với kim ngạch duy trì 150 - 200 triệu USD mỗi năm.

Thứ hai, biến động thị phần và mức độ tập trung cao về cơ cấu mặt hàng. Trước năm 2011, rau quả Trung Quốc chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Giai đoạn 2012 - 2014, thị phần giảm về mức khoảng 30% nhưng vẫn đứng thứ hai trên thị trường. Về cơ cấu năm 2014, nhóm quả nhập khẩu tập trung chủ yếu vào táo, cam, lê (chiếm hơn 50%), quýt (chiếm 15,62%) và nho (chiếm 10,30%). Ở nhóm rau củ, khoai tây, cà rốt và cà chua chiếm hơn 50% tổng kim ngạch rau nhập khẩu từ Trung Quốc, nấm tươi chiếm 10,02% và hành tây chiếm 7,60%.

Thứ ba, sự quá tải và bất cập trong quy trình kiểm dịch cửa khẩu. Tại cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn), lưu lượng rau quả nhập khẩu trong dịp cao điểm lên tới 800 - 1000 tấn mỗi ngày. Mặc dù quy định yêu cầu lấy mẫu kiểm tra thông thường 10% hoặc kiểm tra chặt 30%, nhưng thực tế nhân lực và phương tiện chỉ cho phép kiểm tra xác suất từ 1% đến 2% tổng khối lượng. Điển hình trong thực tế đã ghi nhận vụ việc gần 300 tấn rau quả Trung Quốc nhiễm độc vượt ngưỡng an toàn thực phẩm theo Thông tư 68/2010/TT-BNNPTNT vẫn bị thẩm thấu vào thị trường trước khi có kết quả xét nghiệm.

Thứ tư, gian lận thương mại và lợi dụng kẽ hở chính sách biên mậu. Chính sách miễn thuế cho cư dân biên giới với định mức 2 triệu đồng/người/ngày đã bị các đầu nậu lợi dụng để thu gom hàng hóa số lượng lớn qua đường mòn, lối mở nhằm trốn tránh kiểm dịch SPS. Điển hình là vụ việc khoai tây Trung Quốc giá rẻ được vận chuyển về Lâm Đồng, bọc đất đỏ giả danh khoai tây Đà Lạt để bán với giá cao gấp 3 đến 4 lần.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp liên ngành giữa Hải quan, Kiểm dịch thực vật, Quản lý thị trường và Công an kinh tế. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ xét nghiệm nhanh độc chất tại các trạm kiểm dịch vùng biên còn thiếu thốn, thời gian trả kết quả phân tích định lượng kéo dài từ 3 đến 10 ngày khiến công tác giữ hàng tại cửa khẩu gặp nhiều ách tắc.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Nhật Bản thực thi kiểm soát cực kỳ nghiêm ngặt dựa trên Luật Vệ sinh Thực phẩm, bắt buộc khai báo điện tử trước khi hàng cập cảng và áp dụng kiểm tra 100% đối với các đơn vị từng có lịch sử vi phạm. Thái Lan cũng duy trì hệ thống cấp phép chọn lọc và kiểm soát chặt chẽ hàng tạm nhập tái xuất trong thời hạn 6 tháng. Việt Nam có thể trực quan hóa toàn bộ chuỗi dữ liệu này thông qua biểu đồ cột thể hiện biến động kim ngạch xuất nhập khẩu song phương giai đoạn 2007 - 2015, biểu đồ tròn phân bổ thị phần nguồn cung ngoại nhập và bảng chỉ tiêu đối chiếu dư lượng kim loại nặng (như Arsen 1,0 mg/kg, Chì 0,1 - 0,3 mg/kg, Cadimi 0,05 - 0,2 mg/kg) để phục vụ công tác giám sát vĩ mô.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và hàng rào kỹ thuật. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Y tế rà soát, bổ sung các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng tồn dư tối đa của hơn 200 loại hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật, phấn đấu chuẩn hóa 100% hệ thống tiêu chuẩn kiểm dịch tương thích với thông lệ quốc tế trong giai đoạn 2016 - 2017.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng trang thiết bị và tự động hóa kiểm định tại cửa khẩu. Tổng cục Hải quan và Cục Bảo vệ thực vật cần đầu tư lắp đặt hệ thống phòng lab xét nghiệm nhanh lưu động tại 3 cửa khẩu trọng điểm gồm Tân Thanh, Hữu Nghị và Lào Cai trước năm 2018. Mục tiêu nâng tỷ lệ lấy mẫu kiểm nghiệm thực tế từ mức 1 - 2% hiện nay lên đạt chuẩn 10% với lô hàng thông thường và 30% đối với lô hàng có nguy cơ cao, rút ngắn thời gian thông quan từ 10 ngày xuống dưới 48 giờ.

Thứ ba, siết chặt quản lý xuất xứ C/O Mẫu E và chính sách biên mậu. Bộ Công Thương cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc cần tăng cường xác minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, kiểm soát chặt chẽ quy định hạn chế trao đổi cư dân không quá 4 lượt/tháng từ năm 2016, giảm thiểu 80% tình trạng buôn lậu và gian lận giả mạo thương hiệu nông sản Việt Nam.

Thứ tư, đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ công chức chuyên trách. Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ cho khoảng 500 lượt cán bộ hải quan và kiểm dịch viên mỗi năm từ năm 2016 đến năm 2020, tập trung vào kỹ năng phân tích rủi ro, vận hành hệ thống thông quan điện tử VNACCS và phát hiện gian lận chứng từ.

Thứ năm, phát triển chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường rau quả nội địa. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo quy hoạch các vùng sản xuất rau an toàn đạt chuẩn VietGAP tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, đặt mục tiêu tăng tỷ trọng tiêu thụ rau quả sạch nội địa lên mức 65% trên toàn thị trường vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Hải quan. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng các hàng rào kỹ thuật SPS/TBT, hoàn thiện quy định quản lý xuất xứ C/O Mẫu E và thiết lập cơ chế giám sát liên ngành hiệu quả tại các vùng biên giới.

Thứ hai, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và logistics nông sản. Các đơn vị có thể tra cứu chi tiết lộ trình thuế quan 0%, các quy chuẩn kiểm nghiệm an toàn thực phẩm theo Thông tư 68/2010/TT-BNNPTNT và quy trình kiểm dịch cửa khẩu để chủ động kế hoạch kinh doanh, phòng ngừa rủi ro bị giữ hàng hoặc tiêu hủy do vi phạm tồn dư hóa chất.

Thứ ba, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và nông dân sản xuất rau quả nội địa. Nghiên cứu giúp người sản xuất nắm bắt rõ nét cơ cấu thị phần cạnh tranh của các mặt hàng chủ lực như táo, cam, lê, khoai tây, cà rốt, từ đó chủ động cơ cấu lại mùa vụ, nâng cao chất lượng tiêu chuẩn an toàn và xây dựng thương hiệu nông sản Việt vững chắc.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế và Thương mại quốc tế. Đây là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cơ chế phòng vệ thương mại phi thuế quan và thực tiễn ngoại thương Việt - Trung.

Câu hỏi thường gặp

Lộ trình cắt giảm thuế quan đối với rau quả Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam diễn ra như thế nào? Theo Chương trình thu hoạch sớm thuộc Hiệp định ACFTA, toàn bộ mức thuế suất đối với rau quả tươi có xuất xứ từ Trung Quốc đã được Việt Nam cắt giảm từng bước từ mức 10 - 30% năm 2004 xuống 0% từ ngày 1/1/2008 nếu có chứng nhận xuất xứ C/O Mẫu E hợp lệ.

Tại sao tỷ lệ lấy mẫu kiểm dịch thực tế tại các cửa khẩu biên giới lại thấp hơn quy định? Do lưu lượng hàng hóa nhập khẩu quá lớn, đạt từ 800 đến 1000 tấn mỗi ngày tại cửa khẩu Tân Thanh vào dịp cao điểm, trong khi trang thiết bị phân tích nhanh và nhân lực kiểm định còn thiếu thốn, dẫn đến tỷ lệ lấy mẫu thực tế chỉ đạt 1 - 2% thay vì mức 10% theo quy định.

Quy trình xử lý đối với các lô hàng rau quả nhập khẩu vi phạm an toàn thực phẩm được thực hiện ra sao? Nếu phát hiện dư lượng hóa chất vượt ngưỡng, cơ quan chức năng sẽ nâng tần suất kiểm tra lô hàng tiếp theo lên mức kiểm tra chặt 30% và giữ hàng 10 ngày để chờ xét nghiệm; nếu tái phạm sẽ áp dụng kiểm tra 100% hoặc ra quyết định buộc tái xuất, tiêu hủy toàn bộ lô hàng vi phạm.

Những mặt hàng rau quả nào của Trung Quốc chiếm tỷ trọng nhập khẩu lớn nhất tại Việt Nam? Trong nhóm trái cây, táo, cam và lê chiếm hơn 50% tổng kim ngạch, kế tiếp là quýt chiếm 15,62% và nho chiếm 10,30%. Ở nhóm rau củ, khoai tây, cà rốt và cà chua chiếm hơn 50% tổng lượng rau nhập khẩu từ Trung Quốc vào năm 2014.

Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm gì từ hệ thống quản lý nhập khẩu thực phẩm của Nhật Bản? Việt Nam cần áp dụng hệ thống khai báo điện tử bắt buộc trước khi hàng đến cảng, yêu cầu cung cấp bảng mô tả thành phần chất phụ gia sản xuất và thực hiện cơ chế kiểm tra 100% đối với các doanh nghiệp từng có tiền sử vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng mở cửa thị trường khi thuế nhập khẩu rau quả từ Trung Quốc về 0% theo Hiệp định ACFTA từ ngày 1/1/2008, tạo ra dòng chảy nhập khẩu 150 - 200 triệu USD mỗi năm.
  • Chỉ rõ bất cập lớn trong công tác kiểm soát chất lượng tại cửa khẩu khi tỷ lệ lấy mẫu thực tế chỉ đạt 1 - 2% so với quy định chuẩn 10%, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn sinh học.
  • Xác định rõ nét cơ cấu nhập khẩu tập trung cao độ với hơn 50% thị phần trái cây thuộc về táo, cam, lê và hơn 50% thị phần rau củ thuộc về khoai tây, cà rốt, cà chua.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp hoàn thiện rào cản kỹ thuật SPS, hiện đại hóa phòng lab cửa khẩu, siết chặt C/O Mẫu E và đào tạo 500 lượt cán bộ mỗi năm.
  • Đóng góp luận cứ khoa học giúp các cơ quan quản lý chuyển đổi phương thức điều hành từ tiền kiểm thủ công sang quản lý rủi ro và hậu kiểm hiện đại theo chuẩn quốc tế.

Lộ trình triển khai các giải pháp cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2016 - 2020 nhằm thiết lập một hành lang kiểm soát biên mậu minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp hành động để hiện thực hóa các khuyến nghị chính sách vào thực tiễn quản lý ngoại thương.