CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm du lịch Hoạt động kinh doanh du lịch đã có từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người.
Những năm gần đây, du lịch phát triển nhanh ở nhiều nước trên thế giới. Đối với nhiều quốc gia, du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, nguồn thu ngoại tệ lớn. Tuy nhiên, khái niệm "du lịch" được hiểu rất khác nhau như: Xuất phát từ ngữ nghĩa của từ "du lịch" được dùng ở mỗi nước: Trong ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga sử dụng các từ Tourism, Le Toursime, Typuzm. Do đó "du lịch" có nghĩa là: Khởi hành, đi lại, chinh phục không gian.
Ở Đức sử dụng từ Der Fremdenverkehr có nghĩa là lạ, đi lại và mối quan hệ. Do đó, ở Đức nhìn nhận du lịch là mối quan hệ, vận động đi tới các vùng, địa danh khác lạ của người đi du lịch. Xuất phát từ các đối tượng và nhiệm vụ khác nhau của các đối tượng đó khi tham gia vào HĐDL. Đối với người đi du lịch thì đó là cuộc hành trình và lưu trú ở một địa danh ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình.
Đối với các chủ cở sở KDDL thì đó là quá trình tổ chức các điều kiện sản xuất, dịch vụ phục vụ người đi du lịch nhằm đạt lợi nhuận tối đa. Đối với chính quyền địa phương có địa danh du lịch, thì đó là việc tổ chức các điều kiện về CSHT, cơ sở vật chất, kỹ thuật để phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động kinh doanh đa dạng giúp đỡ việc lưu trú, việc hành trình của du khách; tổ chức tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại địa phương, tăng nguồn thu cho dân cư, cho ngân sách, nâng cao mức sống của dân cư; tổ chức các hoạt động quản lý hành chính nhà nước bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội của vùng. Xuất phát từ quan niệm và giác độ quan tâm của những người đưa ra định nghĩa: Quan tâm đến cung du lịch, GS. Hunziker cho rằng: "Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời" quan niệm này đã bao quát nội dung du lịch nhưng lại thiếu phân loại cụ thể các mối quan hệ và chưa quan tâm đầy đủ đến các hoạt động tổ chức du lịch và sản xuất hàng hoá và dịch vụ đáp ứng cầu của du khách.
Luan van 7 Trong Luật Du lịch do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Theo định nghĩa trên, có thể rút ra những luận điểm cơ bản về du lịch như sau: Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên; Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn; Mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập nơi đến viếng thăm; Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư ở địa phương. Khái niệm, đặc điểm kinh doanh du lịch Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 áp dụng vào lĩnh vực du lịch có thể hiểu: “Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch, từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Kinh doanh du lịch có một số đặc điểm cơ bản như sau: Sản phẩm du lịch có tính vô hình, không đồng nhất, không tách rời và không dự trữ được.
Khác với sản phẩm hàng hóa, sản phẩm du lịch hầu như không tồn tại dưới dạng vật chất cũng như không cảm nhận được bằng các giác quan. Tính không đồng nhất của sản phẩm du lịch là do chất lượng sản phẩm du lịch phụ thuộc rất nhiều vào tâm lý, trạng thái, tình cảm của nhân viên phục vụ; vào thái độ, cách ứng xử, kinh nghiệm cảm nhận… của khách du lịch. Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra đồng thời cả về không gian và thời gian. Kinh doanh du lịch gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch tài nguyên du lịch do nhu cầu du lịch hướng tới thưởng ngoạn giá trị tài nguyên du lịch.
Thực tế, tất cả các sản phẩm du lịch đều phải được khai thác từ giá trị hấp dẫn của tài nguyên du lịch hoặc phải được thiết kế cung cấp tại các khu, các điểm du lịch. Kinh doanh du lịch sử dụng nhiều lao động sống do sản phẩm du lịch là sản phẩm dịch vụ, cho nên khả năng cơ giới hóa và tự động hóa trong kinh doanh du lịch rất khó. Các cơ sở kinh doanh du lịch phải sử dụng nhiều lao động trực tiếp phục vụ khách để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của họ. Luan van 8 Kinh doanh du lịch mang tính thời vụ, phụ thuộc vào nhu cầu khách du lịch và tính chất đặc thù của tài nguyên du lịch.
Tùy vào thời gian rỗi của khách du lịch và đặc tính của mỗi điểm đến du lịch, có những khoảng thời gian chính vụ, nhu cầu du lịch tăng lên rất cao và ngược lại. Kinh doanh du lịch phục vụ nhiều đối tượng khách hàng khác nhau cả về quốc tịch, tập quán, trình độ, giới tính, khả năng thanh toán… Kinh doanh du lịch có tính sẵn sàng đón tiếp và phục vụ khách bất cứ khi nào khách hàng có nhu cầu. Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh du lịch thường diễn ra 24/24h trong ngày. Khái niệm quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch Hiện nay hầu hết các quốc gia đều có các hoạt động điều tiết, quản lý nền kinh tế thông qua những chính sách vĩ mô nhằm hạn chế những tác động tiêu cực nảy sinh cũng như vận hành nền kinh tế theo những định hướng có lợi.
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008: “Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân (quản lý Nhà nước về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước”. Như vậy, là một ngành kinh tế non trẻ trong nền kinh tế quốc dân, thị trường du lịch lại ra đời muộn hơn so với thị trường chung nên càng cần thiết phải có sự quản lý của Nhà nước. Trong phạm vi đề tài này, có thể hiểu, QLNN đối với hoạt động kinh doanh du lịch là quá trình tác động của các cơ quan QLNN lên các chủ thể, các yếu tố của thị trường du lịch nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội. QLNN đối với hoạt động kinh doanh du lịch ở một địa phương là yêu cầu không thể thiếu ở bất cứ quốc gia nào, song ở hầu hết các quốc gia đều đứng trên quan điểm định hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, cho HĐDL của đất nước phát triển.
Nội dung, công cụ, phương pháp và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch 1. Nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch 1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đối với hoạt động kinh doanh du lịch Công cụ không thể thiếu trong quản lý nhà nước đối với kinh doanh du lịch là pháp luật, Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh du lịch như: Luật, văn bản dưới luật: nghị Luan van 9 định, quy định, thông tư, hướng dẫn. Và các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra nên nó mang tính quyền lực và bắt buộc phải tuân theo.
Để quản lý kinh doanh du lịch, Nhà nước cần phải ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch quy định những chuẩn mực hành vi của các chủ thể tham gia kinh doanh du lịch, điều kiện thành lập doanh nghiệp kinh doanh các loại hình dịch vụ du lịch, quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch, những dịch vụ nào được phép kinh doanh, những dịch vụ nào không được phép kinh doanh, quy định hệ thống tiêu chuẩn chất lượng như: xếp hạng đối với khách sạn, tiêu chuẩn của khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch quốc gia và địa phương, các văn bản quy phạm pháp luật về khen thưởng và xử lý vi phạm quy định về du lịch, các văn bản liên quan khác. Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch nhà nước cũng quan tâm đến việc chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện cho các cơ sở kinh doanh du lịch. Chính quyền cấp tỉnh phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịch cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo sự tuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật về du lịch một cách nghiêm túc. Mặt khác, chính quyền cấp tỉnh phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật du lịch trên địa bàn tỉnh, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật.
Không tùy tiện thay đổi các chính sách của mình, nhanh chóng xóa bỏ các văn ban cũ trái với các văn bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khăn cho hoạt động du lịch.