CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về khu công nghiệp, khu chế xuất 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về KCN: Các KCN đã được thành lập ở nhiều nước nhằm thực hiện mục tiêu thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài và thực hiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước, hướng về xuất khẩu.
Khái niệm cụ thể về KCN ở một số nước như sau: Ở Philipine, theo luật về các KKT đặc biệt 1995, KCN được định nghĩa như sau: “KCN là một khu đất được chia nhỏ và xây dựng căn cứ vào một quy hoạch toàn diện dưới sự quản lý liên tục thống nhất và với các qui định đối với cơ sở hạ tầng cơ bản và các tiện ích khác, có hay không có các nhà xưởng tiêu chuẩn và các tiện ích công cộng được xây dựng sẵn cho việc sử dụng chung trong KCN”. Ở Inđônêxia, theo sắc lệnh của Tổng thống Cộng hòa Inđônêxia số 98/1993 thì KCN được định nghĩa: “là khu vực tập trung các hoạt động chế tạo công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và các phương tiện hỗ trợ khác do công ty KCN cung cấp và quản lý”. Từ các khái niệm ở trên có thể thấy quan niệm về KCN giữa các nước cũng không đồng nhất, nhưng thường được hiểu là một khu đất được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp tương hợp với hạ tầng cơ sở, các tiện ích công cộng, các dịch vụ phục vụ và hỗ trợ. 8 Khái niệm được sử dụng bao trùm nội dung luận văn này đó là khái niệm về khu công nghiệp theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ Việt Nam quy định về KCN.
Trong nghị định có nêu: KCN là “khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp’’. Khái niệm Khu chế xuất (KCX): Khu chế xuất là loại hình đặc biệt của KCN, với tính chất là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của một quốc gia. Có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về khu chế xuất. Chẳng hạn như: - Hiệp hội các KCX trên Thế giới (WEPZA – World Export Processing Zone) định nghĩa: KCX bao gồm tất cả các khu vực được Chính phủ các nước cho phép như cảng tự do, khu vực mậu dịch tự do, khu công nghiệp tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận.
Định nghĩa này đồng nhất KCX với khu miễn thuế. Trong khi đó: - Tổ chức phát triển Liên Hợp quốc (UNIDO) định nghĩa: KCX là khu vực được giới hạn về hành chính, có ranh giới địa lý xác định, được hưởng một chế độ thuế quan, cho phép tự do nhập trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, chế độ thuế quan được ban hành cùng những quy định của pháp luật miễn thuế. - Pháp luật Việt Nam tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định: KCX là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Khái niệm quản lý Nhà nước: Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật.
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chi phối, v. để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Đặc điểm khu công nghiệp, khu chế xuất *Từ khái niệm về KCN nêu trên có thể rút ra các đặc trưng cơ bản của khu công nghiệp như sau: Thứ nhất: KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng, lãnh thổ khác và không có dân cư sinh sống. Về mặt địa lý, các KCN đều được xác định ranh giới một cách cụ thể, phân biệt với các vùng, lãnh thổ khác bằng hệ thống hàng rào KCN.
Sự phân định ranh giới này được thể hiện một cách rõ rang trong Quyết định thành lập KCN. Hoạt động trong KCN ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành còn phải tuân thủ theo quy chế pháp lý riêng biệt và được hưởng những ưu đãi riêng biệt. Trong KCN có thể có khu chế xuất. KCX có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng còn lại của KCN và áp dụng theo quy chế riêng.
Quy định này tạo điều kiện đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong KCN, đồng thời đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong KCN. Thứ hai: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Bản thân tên gọi KCN đã thể hiện rõ chức năng hoạt động của KCN là sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Vì vậy, trong KCN không thể có các hoạt động khác như hoạt động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp và các dịch 10 vụ phục vụ cho các loại hình sản xuất này.
Thứ ba: KCN được thành lập theo quy định của Chính phủ. Đây là đặc điểm thể hiện tính pháp chế của việc thành lập cũng như hoạt động của KCN. Quy định này còn thể hiện sự tham gia của yếu tố nhà nước trong sự hình thành và hoạt động của KCN, tạo cơ hội cho KCN phát triển theo đúng định hướng, chính sách phát triển của Nhà nước, tránh tình trạng các địa phương thành lập tràn lan các KCN mà không tính đến hiệu quả và hợp lý. * Từ khái niệm KCX có thể rút ra các đặc điểm về KCX như sau: Thứ nhất, về bản chất, KCX là một loại hình KCN, vì thế KCX mang đầy đủ các đặc điểm của KCN như: là khu vực có ranh giới địa lý xác định và không có dân cư sinh sống, chuyên sản xuất công nghệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo quy định của Chính phủ và hoạt động theo quy chế riêng.
KCX có thể nằm biệt lập với KCN hoặc nằm trong KCN. Thứ hai, KCX hoạt động chuyên về sản xuất hàng xuất khẩu hoặc thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu. Đây là điểm khác biệt, tách biệt KCX với các khu vực còn lại của KCN. Nếu như doanh nghiệp trong KCN có thể tiêu thụ hàng hóa tại thị trường trong nước hoặc thị trường nước ngoài thì doanh nghiệp trong KCX chủ yếu xuất khẩu hàng hóa ra thị trường khu vực và thế giới.
Điều này tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Vai trò khu công nghiệp, khu chế xuất Xây dựng và phát triển các KCN và KCX là mô hình phát triển kinh tế chung của hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Hình thức KCN, KCX mang lại nhiều lợi thế. Trước hết, đầu tư phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất tạo ra nền tảng kinh tế – xã hội, tác động mạnh mẽ đến đầu tư cả trong và ngoài nước, thúc đẩy sản xuất công 11 nghiệp để sản xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; KCN, KCX góp phần quan trọng vào giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động, từng bước nâng cao trình độ, kĩ thuật, tay nghề, bậc thợ, hình thành tác phong công nghiệp, sẵn sàng đón nhận các công nghệ tiên tiến; Việc phát triển KCN, KCX nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và nguồn lực trong nước, địa phương như: lao động, chất xám, các nguồn vốn, tài nguyên rừng, thuỷ sản, khoáng sản.
để công nghiệp hoá đất nước; KCN, KCX là địa bàn cụ thể thực hiện các cơ chế, chính sách quản lý, tiếp cận dần với thông lệ quốc tế, là điều kiện giúp cho việc hội nhập với khu vực và thế giới nhằm khai thác, thu hút ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn các nguồn lực từ bên ngoài vào phát triển địa phương, đất nước, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của nước ngoài; Các KCN, KCX với kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội phát triển theo quy hoạch sẽ góp phần hình thành các đô thị vệ tinh mới, thu hẹp sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị; Đồng thời góp phần hình thành các vùng kinh tế trọng điểm cho cả nước, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội, đảm bảo được yêu cầu về quy hoạch vùng và lãnh thổ.; và hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế (dệt may, đồ điện gia dụng, giầy dép. Nội dung của công tác quản lý nhà nước đối với các KCN 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với KCN & KCX: * Điều kiện tự nhiên: Điều kiện thuận lợi để phát triển KCN là hỗ trợ tài chính đối với các KCN, hỗ trợ thu ngân sách nhà nước 12 * Điều kiện kinh tế xã hội: Nhà nước tạo điều kiện và hỗ trợ nhiều mặt giúp đỡ các KCN như: hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, lực lượng lao động. Tùy thuộc vào đều kiện kinh tế xã hội từng địa phương khác nhau mà quản lý nhà nước của các địa phương cũng khác nhau.
*Chế độ chính sách quản lý nhà nước đối với KCN: - Chính sách phát triển kinh tế - xã hội, lãnh thổ, quốc gia - Thể chế hóa của Nhà nước về mặt tài chính - Trình độ năng lực của chính quyền 1. Nội dung của công tác quản lý nhà nước đối với các KCN. Với vai trò quan trọng của các KCN trong việc tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập và đóng góp vào ngân sách; quản lý nhà nước đối với các KCN như là một nhiệm vụ quan trọng.