Tổng quan nghiên cứu
Thành phố Hải Phòng giữ vị trí cửa ngõ giao thương quốc tế chiến lược của vùng duyên hải Bắc Bộ và lưu vực đồng bằng sông Hồng. Năm 2013, ngành du lịch địa phương ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng khi đón 5.005.000 lượt khách, tăng gần 12% so với năm 2012, mang lại tổng doanh thu 2.053 tỷ đồng, tăng hơn 12%. Đến tháng 9 năm 2014, địa bàn thành phố có 405 cơ sở lưu trú với 9.041 phòng nghỉ và 60 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành. Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp đã đặt ra bài toán phức tạp cho công tác quản lý nhà nước về du lịch.
Thực tế phát triển bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi có tới 83% cơ sở lưu trú sở hữu quy mô dưới 40 buồng, công suất sử dụng phòng bình quân 9 tháng đầu năm 2014 suy giảm chỉ còn 27%. Bên cạnh đó, tình trạng kinh doanh lữ hành không phép, sử dụng cộng tác viên thiếu thẻ hướng dẫn viên chuẩn hóa, cùng sự thiếu kiểm soát đối với 152 đơn vị vận chuyển đường bộ và hơn 100 phương tiện thủy nội địa đã làm suy giảm chất lượng dịch vụ du lịch chung.
Mục tiêu chính của luận văn là hệ thống hóa khung lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch tại Hải Phòng giai đoạn 2006 đến 2014, từ đó xây dựng các nhóm giải pháp mang tính chiến lược đến năm 2020. Nghiên cứu tập trung vào các nội dung: hướng dẫn thực thi văn bản pháp luật, thẩm định cấp và thu hồi giấy phép kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực, thanh tra kiểm tra và cơ chế phối hợp liên ngành. Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch của thành phố Hải Phòng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế kết hợp với các lý thuyết quản trị công hiện đại nhằm xác lập khung phân tích đối với các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch. Bốn chức năng quản trị vĩ mô cốt lõi được tác giả làm rõ bao gồm: chức năng hoạch định chiến lược và kiến tạo thể chế, chức năng tổ chức và điều phối bộ máy quản lý, chức năng can thiệp điều tiết thị trường nhằm đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, và chức năng kiểm soát, thanh tra việc chấp hành kỷ cương pháp luật.
Khung pháp lý tham chiếu xuyên suốt của đề tài dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh gồm: Luật Du lịch năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định số 92/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Du lịch, Nghị định số 158/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính, cùng các văn bản chuyên ngành như Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL về cơ sở lưu trú và Thông tư liên tịch số 05/2011/TTLT-BGTVT-BVHTTDL về vận tải khách du lịch. Ba khái niệm nền tảng được định nghĩa chuẩn xác gồm: Quản lý nhà nước về du lịch, Doanh nghiệp du lịch đa thành phần kinh tế, và Công cụ quản lý hành chính pháp lý cấp tỉnh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện để thu thập dữ liệu sơ cấp từ 46 doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Hải Phòng vào tháng 6 và tháng 7 năm 2014. Cấu trúc mẫu khảo sát bao gồm: 23 cơ sở lưu trú từ 1 đến 5 sao thuộc nhiều hình thức sở hữu, 12 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế, cùng 11 đơn vị kinh doanh vận chuyển khách đường bộ và đường thủy. Ngoài ra, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 12 cá nhân, gồm 3 cán bộ chuyên trách tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng cùng 9 lãnh đạo doanh nghiệp nhằm thu thập các góc nhìn đa chiều.
Lý do lựa chọn kết hợp điều tra bảng hỏi định lượng và phỏng vấn sâu định tính là nhằm kiểm chứng mức độ đồng thuận giữa chủ thể quản lý và đối tượng chịu sự tác động. Dữ liệu sau thu thập được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel để tính toán các điểm số trung bình thang đo 5 mức độ, tỷ lệ phần trăm và tần suất phân bố, phục vụ việc đánh giá khách quan tiến trình thực thi chính sách giai đoạn 2006 đến 2014.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả điều tra thực nghiệm chỉ ra nhiều khoảng cách đáng kể giữa quy định thể chế và thực tiễn thực thi tại Hải Phòng:
Thứ nhất, mức độ thường xuyên trong công tác hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật đạt điểm trung bình toàn ngành rất thấp, chỉ ở mức 2.37 trên thang điểm 5. Trong đó, khối doanh nghiệp vận chuyển đánh giá thấp nhất với 1.36 điểm, khối lưu trú đạt 2.57 điểm và khối lữ hành đạt 2.92 điểm. Có đến 56.5% tổng số doanh nghiệp cho điểm dưới 3.0, đặc biệt có tới 81.8% khách sạn tư nhân và hơn 81% doanh nghiệp vận tải đánh giá hoạt động này chưa đạt yêu cầu.
Thứ hai, có sự phân hóa sâu sắc về chất lượng tiếp cận thông tin giữa các thành phần kinh tế. Trong khi 80.02% doanh nghiệp nhà nước và liên doanh đánh giá nội dung hướng dẫn rõ ràng với điểm số hài lòng trung bình đạt 4.2 điểm, thì có tới 73.2% doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần phản ánh văn bản hướng dẫn còn chung chung, khó áp dụng vào thực tế vận hành hàng ngày.
Thứ ba, sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp liên ngành thể hiện rõ qua tính kịp thời của công tác hướng dẫn. Khối lữ hành và lưu trú đánh giá tính kịp thời đạt 3.13 đến 3.42 điểm, nhưng khối vận tải du lịch chỉ ghi nhận 2.09 điểm, với 72.7% đơn vị vận chuyển khẳng định công tác này hoàn toàn chậm trễ do trách nhiệm bị phân tán giữa Sở Giao thông Vận tải và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Thứ tư, cấu trúc ngành kinh doanh lưu trú có sự mất cân đối lớn khi 83% cơ sở sở hữu dưới 40 buồng phòng, thiếu các dịch vụ bổ trợ cao cấp. Điều này dẫn đến sự sụt giảm liên tục của công suất phòng từ mức 49% năm 2011 xuống 42% năm 2013 và chỉ còn 27% trong 9 tháng đầu năm 2014.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột so sánh mức độ hài lòng giữa ba nhóm ngành kinh doanh, làm nổi bật khoảng cách chênh lệch điểm số từ 1.36 điểm của mảng vận chuyển tới 2.92 điểm của mảng lữ hành. Đồng thời, cấu trúc cơ sở lưu trú được mô tả trực quan qua biểu đồ tròn với lát cắt 83% thuộc về nhóm quy mô nhỏ dưới 40 phòng, phản ánh rõ nét nguyên nhân kéo tụt công suất phòng chung.
Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế bắt nguồn từ việc bộ máy quản lý nhà nước sau khi sáp nhập năm 2008 còn thiếu nhân sự chuyên sâu về du lịch, cơ chế ủy quyền chưa đồng bộ và thiếu hụt quy chế phối hợp liên ngành có tính ràng buộc pháp lý cao. Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với luận điểm của một số nghiên cứu trước đây về việc hệ thống thể chế quản lý du lịch cấp tỉnh thường mang tính hình thức, nhưng luận văn đã chỉ ra điểm đặc thù mới tại Hải Phòng là sự đứt gãy kết nối thông tin nghiêm trọng đối với khu vực kinh tế tư nhân và vận tải du lịch biển đảo.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến năm 2020, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giao thông Vận tải, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Công an thành phố. Mục tiêu cụ thể là chuẩn hóa 100% dữ liệu đăng ký kinh doanh và kiểm soát kỹ thuật cho 152 đơn vị vận tải ô tô và toàn bộ 104 tàu du lịch tại bến Bính, Đồ Sơn và vịnh Lan Hạ, hoàn thành chậm nhất trong quý IV năm 2016.
Thứ hai, đổi mới phương thức tuyên truyền và phổ biến chính sách pháp luật. Định kỳ mỗi quý, Sở cần tổ chức ít nhất 1 hội nghị đối thoại trực tiếp theo từng chuyên ngành, tập trung tháo gỡ khó khăn cho khối doanh nghiệp tư nhân. Thiết lập kênh cung cấp văn bản điện tử tự động, đảm bảo tỷ lệ tiếp cận thông tin quy chuẩn của các cơ sở lưu trú tư nhân đạt trên 90% vào năm 2017.
Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh công tác thanh tra, hậu kiểm. Xây dựng quy trình thẩm định xếp hạng lưu trú minh bạch, rút ngắn 30% thời gian thụ lý hồ sơ cấp phép lữ hành quốc tế; đồng thời thiết lập chu kỳ thanh tra định kỳ 6 tháng một lần đối với 100% cơ sở kinh doanh nhằm chấm dứt hoàn toàn tình trạng bán tour không phép và sử dụng hướng dẫn viên không thẻ.
Thứ tư, ban hành chính sách ưu đãi đầu tư hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Thành phố cần dành quỹ đất ưu đãi và hỗ trợ lãi suất để thu hút các dự án khách sạn 4 đến 5 sao quy mô trên 100 phòng, kết hợp tổ chức 10 khóa đào tạo nghiệp vụ quản trị buồng phòng và lễ tân chuẩn quốc gia hàng năm, nhằm mục tiêu nâng công suất sử dụng phòng đạt trên 55% vào năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:
Nhóm thứ nhất là cán bộ, lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại các tỉnh, thành phố ven biển, đặc biệt là Sở Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tài liệu cung cấp góc nhìn thực tiễn để xây dựng quy chế quản lý liên ngành, kiểm soát phương tiện vận tải thủy và phát triển du lịch biển đảo bền vững.
Nhóm thứ hai là các nhà quản trị, chủ doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và đơn vị vận chuyển khách du lịch. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm rõ các chuẩn mực pháp lý, hiểu sâu quy trình thanh tra, cấp phép, từ đó chủ động chuẩn hóa quy trình dịch vụ và giảm thiểu rủi ro pháp lý trong kinh doanh.
Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch học, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý công. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa lý thuyết quản lý hành chính với phương pháp khảo sát thực chứng trên 46 doanh nghiệp.
Nhóm thứ tư là các nhà đầu tư và tư vấn phát triển dự án bất động sản nghỉ dưỡng tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, giúp đánh giá chính xác môi trường thể chế, dung lượng thị trường và tiềm năng phát triển dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hải Phòng.
Câu hỏi thường gặp
Hoạt động quản lý đối với doanh nghiệp lữ hành tại Hải Phòng gặp những bất cập nổi bật nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Khoảng 70% doanh nghiệp lữ hành tại Hải Phòng là doanh nghiệp nội địa quy mô nhỏ với vốn dưới 5 tỷ đồng. Bất cập lớn nhất là tình trạng các doanh nghiệp không có giấy phép quốc tế nhưng vẫn chào bán tour nước ngoài và sử dụng cộng tác viên chưa có thẻ hướng dẫn viên du lịch hợp lệ.
Nguyên nhân chính khiến công suất sử dụng buồng phòng khách sạn tại Hải Phòng giảm sâu xuống 27% vào năm 2014 là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do 83% cơ sở lưu trú có quy mô dưới 40 phòng, thiếu dịch vụ vui chơi giải trí bổ trợ, tính mùa vụ đậm nét và chất lượng nhân lực trực tiếp chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao, làm giảm thời gian lưu trú của khách.
Tại sao công tác quản lý các doanh nghiệp vận chuyển khách du lịch đường thủy và đường bộ lại đạt điểm số hài lòng thấp nhất?
Doanh nghiệp vận chuyển chịu sự quản lý chuyên ngành trực tiếp từ Sở Giao thông Vận tải trong khi Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ phối hợp thẩm định biển hiệu du lịch. Sự phối hợp lỏng lẻo khiến 72.7% đơn vị phản ánh thông tin quản lý không kịp thời.
Mẫu khảo sát của luận văn được thiết kế như thế nào để đảm bảo tính khách quan và khoa học?
Tác giả đã thu thập ý kiến định lượng từ 46 doanh nghiệp đa dạng gồm 23 khách sạn, 12 công ty lữ hành, 11 đơn vị vận tải, đồng thời phỏng vấn sâu 3 cán bộ quản lý nhà nước và 9 lãnh đạo doanh nghiệp để đối chiếu thực tế.
Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho hệ thống cơ sở lưu trú tại Đồ Sơn và Cát Bà?
Giải pháp then chốt là quy hoạch lại quỹ đất để phát triển các tổ hợp lưu trú quy mô trên 100 phòng tiêu chuẩn 4 đến 5 sao, kết hợp chuẩn hóa 100% chứng chỉ nghề du lịch cho đội ngũ lao động trực tiếp theo tiêu chuẩn quốc gia.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch cấp tỉnh, xác lập rõ 4 chức năng quản trị và hệ thống công cụ pháp lý điều chỉnh.
- Cung cấp bức tranh thực trạng chân thực dựa trên bộ dữ liệu khảo sát 46 doanh nghiệp, làm rõ những điểm nghẽn về thể chế và cơ chế phối hợp liên ngành tại Hải Phòng giai đoạn 2006 đến 2014.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, cải cách cấp phép, nâng cao năng lực nhân sự đến xúc tiến đầu tư hạ tầng du lịch chất lượng cao.
- Xác định lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2020 nhằm đạt mục tiêu đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết 01/2009/NQ-HĐND của thành phố.
- Luận văn là công trình khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp tài liệu quý báu cho công tác hoạch định chính sách du lịch địa phương. Bạn đọc quan tâm có thể khai thác các mô hình đánh giá và phương pháp luận của đề tài để phát triển các nghiên cứu quản trị công tương tự.