CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1 Dịch vụ logistics và sự cần thiết về quản lý Nhà nước đối với dịch vụ logistics 1.1 Khái niệm về logistics và dịch vụ logistics Dịch vụ logistics xuất hiện từ lĩnh vực hậu cầu quân đội nhằm đảm bảo đầy đủ và kịp thời vũ khí, quân lương, nước uống, thuốc chữa bệnh, việc di chuyển lực lượng quân đội trên các chiến trường và các phương tiện vật chất khác nhằm phục vụ chiến đấu. Dịch vụ này là yếu tố quyết định đáng kể tới kết quả của các trận đánh và thậm chí cả những chiến dịch lớn, kể cả thắng lợi của chiến tranh thế giới. Những kết quả của nó từ việc sử dụng phổ biến trong quân đội và chiến tranh được chuyển giao sang lĩnh vực dân sự, thương mại và chúng được thương mại hóa tối đa để thu lợi nhuận. Nếu quan niệm thương trường là “chiến trường không có tiếng súng” và cạnh tranh là sự “giao tranh ác liệt giữa các đối thủ”, giành giật thị trường để tồn tại thì dịch vụ logistics trở thành một trong những công cụ quan trọng kiến tạo năng lực cạnh tranh giành ưu thế.
Theo cách tiếp cận hệ thống, điều độ đúng hạn “Just In Time - JIT” thường được các tập đoàn sản xuất Nhật Bản sử dụng và hiện nay trở thành phổ biến trên toàn cầu, logistics được phát triển lên một cấp độ mới với yêu cầu cung cấp kịp thời, đầy đủ và đồng bộ nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, con người cũng như hệ thống điều khiển dự trữ, lưu kho và xuất kho đúng thời điểm của dòng lưu chuyển liên tục của sản xuất, tránh sự ngừng trệ và chậm trễ, gây lãng phí thời gian và nguồn lực Trong mô hình chuỗi giá trị của M.Porter, khái niệm logistics được đề cập từ khía cạnh logistics đầu vào và logistics đầu ra (Hình 1. Như vậy, dịch vụ 6 logistics có ý nghĩa trong việc tạo ra giá trị và là một khâu không thể thiếu trong chuỗi giá trị thống nhất. Mô hình còn cho thấy khá rõ nét vị trí và vai trò của dịch vụ logistics trong chuỗi giá trị doanh nghiệp khi quan niệm hoạt động của doanh nghiệp là một quá trình tạo ra giá trị theo một chuỗi nhất định. Nó bao gồm logistics đầu vào gắn với việc cung ứng các yếu tố đầu vào trước khi diễn ra quá trình sản xuất và logistics đầu ra thực hiện việc vận chuyển sản phẩm sau khi sản xuất để tiêu thụ.
Mô hình còn cho thấy dịch vụ logistics khác với marketing và hoạt động vận hành tác nghiệp. Để thực hiện dịch vụ này cũng rất cần có sự hỗ trợ về cơ sở hạ tầng công ty, nguồn nhân lực, phát triển công nghệ, hoạt động thu mua và với mục đích cao nhất là tạo ra các khoản lợi nhuận và sau đó là tạo lợi thế cạnh tranh. Việc tham gia cung ứng dịch vụ này vừa góp phần tăng giá trị của chuỗi, vừa tạo khả năng thu lợi nhuận của chủ thể thực hiện. Vấn đề là chủ thể cần có khả năng phân tích và khai thác cơ hội cung ứng dịch vụ để tạo giá trị tối ưu trong chuỗi, hay nói cách khác cần tìm thị trường để có chỗ đứng trong chuỗi.
Dịch vụ logistics có thể được đặt trong chuỗi giá trị hoặc trong chuỗi logistics và nó có thể chỉ là một dịch vụ riêng rẽ. Từ cách tiếp cận này, có thể thấy dịch vụ logistics có khả năng chiếm tỷ trọng cao trong chuỗi giá trị doanh nghiệp và rộng hơn trong GDP của cả nền kinh tế.1: Dịch vụ logistics trong chuỗi giá trị Nguồn: M.Porter- Khả năng cạnh tranh quốc gia- Nhà xuất bản Trẻ 2008 7 Theo quan điểm C.Mác, quá trình tái sản xuất mở rộng bao gồm 4 khâu là sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng, trong đó sản xuất là khâu quyết định và tiêu dùng là khâu cuối cũng có vai trò hoàn tất quá trình tái sản xuất nhưng có tác động đến quá trình tái sản xuất theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm. Theo cách tiếp cận tái sản xuất mở rộng, dịch vụ logistics chưa được bộc lộ rõ nét với tư cách là một phân ngành dịch vụ. Điều này có thể do vào thời điểm đưa ra quan điểm nghiên cứu này của C.Mác, dịch vụ logistics chưa được bộc lộ như là một phân ngành độc lập.
Trong kinh tế thị trường, với sự minh bạch của vòng chu chuyển và vị trí, vai trò của các chủ thể cũng như các khâu công việc nhằm sáng tạo giá trị thị trường, quy trình sản xuất thống nhất bao gồm ba loại hoạt động cơ bản là sản xuất - chế tạo (manufacturing), logistics và marketing. Theo cách tiếp cận này, dịch vụ logistics là một trong các bộ phận cấu thành cơ bản và không thể thiếu trong chuỗi giá trị thống nhất. Giữa các khâu công việc này có mối quan hệ qua lại với nhau và chúng có sự đan xen chứ không tách rời hoàn toàn. Bên cạnh đó, cũng có quan niệm đặt dịch vụ logistics trong marketing nhằm phục vụ quá trình phân phối và giao sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Theo Luật Thương mại năm 2005 (Điều 233), dịch vụ logistics được quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Theo nghĩa hẹp, chỉ định nghĩa logistics trong phạm vi một số hoạt động cụ thể. Thực tế còn có nhiều định nghĩa khác nhau về logistics. Logistics là quá trình tiên liệu trước các nhu cầu và mong muốn của khách hàng, sử dụng vốn, nguyên vật liệu, nhân lực, công nghệ và những thông tin cần 8 thiết để đáp ứng những nhu cầu và mong muốn đó, đánh giá những hàng hóa, hoặc dịch vụ, hoặc mạng lưới sản phẩm có thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng; và sử dụng mạng lưới này để thỏa mãn yêu cầu của khách hàng một cách kịp thời nhất (Coyle, 2003).
Định nghĩa này của Coyle cho thấy một điểm chung rất lớn giữa logistics và marketing, đó là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, logistics nhấn mạnh tới việc sử dụng các nguồn tài nguyên đầu vào, công nghệ, thông tin để đáp ứng được những nhu cầu đó của khách hàng. Logistics là một tập hợp các hoạt động chức năng được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt quy trình chuyển hóa nguyên vật liệu thành thành phẩm (Grundey, 2006). Định nghĩa khá đơn giản này của Grundey lại tập trung chủ yếu vào phạm vi của dịch vụ logistics, đó là phạm vi trải dài, bao trùm toàn bộ quy trình từ điểm khởi đầu tới điểm cuối cùng của quá trình sản xuất (nguyên vật liệu - thành phẩm).
Tuy nhiên, nhược điểm của định nghĩa này là không đề cập đến quy trình phân phối sản phẩm tới tay người tiêu dùng, một bộ phận rất quan trọng trong logistics. Sứ mệnh của logistics là đưa được đúng sản phẩm và dịch vụ tới đúng địa điểm, thời gian và hoàn cảnh yêu cầu, đồng thời phải đem lại những đóng góp lớn nhất cho doanh nghiệp (Ballou, 1992). Khác với nhiều định nghĩa khác thường đề cập tới các hoạt động trong logistics, Ballou lại nhấn mạnh vào sứ mệnh mà logistics phải thực hiện. Cũng đưa ra một quan điểm tương tự, E.Grosvenor Plowman cho rằng hệ thống logistics sẽ cung cấp cho các công ty 7 lợi ích (7 rights): đúng khách hàng, đúng sản phẩm, đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đúng thời gian, đúng chi phí.
Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại bao gồm các dịch vụ bổ sung về vận chuyển, giao nhận, kho hàng, hải quan, tư vấn khách hàng và các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa được tổ chức hợp lý và khoa học nhằm đảm bảo quá trình phân phối, lưu chuyển hàng hóa một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu 9 của khách hàng. Ở góc độ rộng hơn, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại bao gồm một chuỗi các dịch vụ được tổ chức và quản lý khoa học gắn liền với các khâu của quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng trong nền sản xuất xã hội. Chúng tôi đồng tình và tiếp cận các dịch vụ logistics theo nhóm quan điểm thứ hai, bao gồm tổng thể các dịch vụ logistics gắn liền với quá trình cung ứng hàng hóa từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến khi sản phẩm được cung ứng đến tay người tiêu dùng với chi phí thấp nhất. Trong quá trình này, logistics gồm 2 bộ phận chính là logistics trong sản xuất và logistics bên ngoài sản xuất (Hình 1.2: Những hoạt động của dịch vụ logistics trong chuỗi cung ứng Nguồn: Australian Bureau of Transport Economics,”logistics in Australia: A preliminary analysis”, Working paper 49,October 2001 10 1.2 Các dịch vụ logistics trên địa bàn thành phố (17 loại dịch vụ) Hiện nay trên địa bàn thành phố có hầu hết các dịch vụ logistics theo Quy định của nhà nước tại Nghị định số 163/2017 NĐCP ngày 30/12/2017.
Đối với thành phố lớn như Hà Nội thường có các loại dịch vụ logistics cơ bả sau: Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải. Dịch vụ chuyển phát. Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa. Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay.
Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan). Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt.
Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ. Dịch vụ vận tải hàng không. Dịch vụ vận tải đa phương thức. Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật.
Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác… 1.