CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 1. Các khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Văn hóa, di sản văn hóa Văn hóa Có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa, cho đến nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra đến hơn 200 khái niệm về văn hóa tùy theo góc độ tiếp cận khác nhau. Mayor nguyên tổng giám đốc UNESCO: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến những tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động…Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống giá trị, truyền thống, thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Văn hóa bao gồm: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Còn, văn hóa từ góc độ quản lý nhà nước theo giáo trình Quản lý nhà nước về văn hóa - giáo dục - y tế “là phức hợp của những giá trị vật chất và tinh thần.
Con người sáng tạo ra văn hóa xuất phát từ như cầu sinh tồn và tái tạo cuộc sống mới”. [30, tr13] 8 Vậy văn hóa là hệ thống hữu cơ giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo và tích lũy trong hoạt động thực tiễn. Đồng thời thể hiện mối tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Di sản văn hóa Theo Điều 1, Luật Di sản văn hóa Việt Nam: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Di sản văn hóa là những giá trị văn hóa đặc biệt bền vững vì nó đã vượt qua được sự thẩm định khắt khe của cả cộng đồng người trong một thời gian lịch sử lâu dài. Một sản phẩm được coi là di sản văn hóa phải hội đủ hai tiêu chí quan trọng. Thứ nhất, là những giá trị vật chất hay tinh thần tiêu biểu cho một cộng đồng người, được cộng đồng đó thừa nhận. Thứ hai, được sự thẩm định của thời gian lịch sử để di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Di sản văn hóa được chia làm 2 loại: Di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Di tích và di tích lịch sử văn hóa Di tích Trong quá trình phát triển, do tác động ảnh hưởng, hệ quả của các yếu tố lịch sử văn hóa để lại mà trong ngôn ngữ của người Việt có sử dụng nhiều từ Hán - Việt, trong đó di tích cũng chính là một từ Hán Việt.
Theo Hán Việt từ điển, di tích được hiểu như sau: Di: sót lại, rớt lại, để lại; Tích: tàn tích, dấu vết. Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử. Theo Luật di sản văn hóa, các di tích được phân thành 3 loại sau: - Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương; - Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia; - Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Di tích lịch sử - văn hóa Theo từ điển Tiếng Việt: Di tích lịch sử - văn hóa là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật, hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại.
Căn cứ Điều 4 Luật Di sản văn hóa, Điều 14 Nghị định số 92/2002/ NĐ- CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, các khái niệm liên quan đến di tích lịch sử - văn hóa được hiểu như sau: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa, cố đô Hoa Lư, chùa Thiên Mụ, Cột cờ… Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Lam Kinh, đền Đồng Nhân… 10 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến.
Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch sử các mạng Pác Pó… Đến năm 2010, di tích lịch sử văn hóa chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tich quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị UNESCO xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam và danh mục di sản thế giới. Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị hủy hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó.
Như vậy, qua sự phân tích trên ta có thể thấy nhiều khái niệm khác nhau về di tích lịch sử - văn hóa, từ đó ta có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về di tích lịch sử - văn hóa là những khu vực, địa điểm, các công trình với quy mô và tính chất khác nhau. Ở đó lưu giữ và ghi lại những dấu ấn về các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu có tác động, ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp hoặc gián tiếp đến tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của địa phương, đất nước và dân tộc. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa Đối với quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa, chủ thể quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa là các cơ quan trong hệ thống hành pháp có thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa từ trung ương đến địa phương; đối tượng quản lý là các di tích lịch sử - văn hóa; Nhà nước sử dụng các công cụ vĩ mô như chính sách, luật, tài chính để quản lý di tích lịch sử - văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử - văn hóa. 11 Về bản chất, quản lý di tích lịch sử - văn hóa là quản lý các hoạt động của con người, cộng đồng xã hội (nghiên cứu, kiểm kê, xếp hạng, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị…) có thể tác động ở cả chiều thuận và nghịch tới di tích lịch sử - văn hóa.
Như vậy, cũng có thể hiểu, quản lý di tích lịch sử - văn hóa là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa với các tổ chức, các đơn vị sự nghiệp và cộng đồng dân cư địa phương nơi có di tích lịch sử - văn hóa cần được bảo vệ, phát huy. Như vậy, quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa là quá trình tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa từ trung ương đến địa phương đối với các di tích lịch sử - văn hóa, các cơ quan này sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý thích hợp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị di tích lịch sử - văn hóa. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hóa, về cội nguồn và truyền thống dấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di tích lịch sử - văn hóa nhân loại. Chính vì vậy, các di tích lịch sử - văn hóa cần được bảo tồn và phát huy.
Nếu muốn làm tốt việc này thì nhất thiết phải có sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.