Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA 1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 1. Di sản Di sản là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, toà nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố của một quốc gia. Di sản là sản phẩm của thiên nhiên và con người, vì thế di sản luôn có sức hút.
Tại những nơi có di sản thì di sản luôn được bảo tồn, du lịch phát triển tạo ra sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, người dân được hưởng lợi nhiều hơn thông qua việc tham gia dịch vụ du lịch, ngành nghề thủ công truyền thống tại khu vực di sản và xung quanh khu vực di sản được phục hồi, mở rộng. Di sản văn hóa Di sản văn hóa là các di tích, các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội hóa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đó và các công trình có sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chứng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Các di chỉ là các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học [38]. DSVH là tập hợp những biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lại cho mỗi nền văn hóa và do đó là của toàn thể nhân loại.
Là một phần việc khẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, là một dạng 9 di sản nhân loại, DSVH mang lại những đặc điểm riêng cho địa danh cụ thể và vì thế nó có thể là nơi cất giữ kinh nghiệm con người. Việc bảo tồn và giới thiệu DSVH này là cốt lõi của mọi chính sách văn hóa. DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. [38] - DSVH phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.
DSVH phi vật thể bao gồm tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian”. - DSVH vật thể là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. DSVH vật thể luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau, luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc”. Do đó, giữ gìn những DSVH vật thể lâu đời là một yêu cầu đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa.
Phân loại di sản văn hóa * Di sản văn hóa phi vật thế Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỷ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản 10 văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng cải tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người [19]. Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, các nhóm người cá nhân và về phát triển bền vững. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [38]. * Di sản văn hóa vật thể “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
Luật này cũng nêu rõ: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”;[38] “Danh làm thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học”; “Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”; “Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”; “Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học”. Đặc điểm của di sản văn hóa * Đặc điểm của di sản văn hóa phi vật thể Thứ nhất, di sản văn hóa phi vật thể được chuyển giao qua nhiều thế hệ, được tái tạo để thích nghi với môi trường sống. Nhiều nhà nghiên cứu còn gọi đây là “di sản sống”. Sự vận động, biến đổi là điều tất yếu, bởi di sản văn hóa phi vật thể có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống con người.
Con người, cộng đồng là một phần của di sản. Khi cộng đồng và đời sống cộng đồng thay đổi thì di sản văn hóa phi vật thể cũng sẽ biến đổi để thích hợp với cộng đồng. Tính chất này làm nên sự khác biệt cơ bản giữa di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Bản chất của di sản văn hóa phi vật thể là sự tiếp nối và biến đổi còn bản chất của di sản văn hóa vật thể là sự cố định và nguyên trạng.
Quá trình chuyển giao di sản văn hóa phi vật thể cần liên tục và bất kì sự tái tạo cũng phải dựa trên cái “gốc” đã được chuyển giao. Thứ hai, di sản văn hóa phi vật thể đã từng hoặc đang được lưu truyền, sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Theo UNSECO ghi nhận đó là “tính bao hàm” của di sản. Di sản văn hóa phi vật thể gắn kết mỗi cá nhân, khiến cá nhân cảm thấy mình là một phần của xã hội.
Tính phổ biến, phổ cập, dễ hiểu thậm chí còn quan trọng hơn cả tính độc đáo, đặc biệt của di sản. Thứ ba, di sản văn hóa phi vật thể phải đại diện cho bản sắc của dân tộc. Di sản đó cần thể hiện được những nét đẹp về văn hóa, lối sống, cách sống của cộng đồng. Đó là những nét đẹp nổi bật, riêng biệt mà khó có thể tìm thấy ở cộng đồng khác.
Thứ tư, di sản văn hóa phi vật thể cần được công nhận bởi cộng đồng sáng tạo sử dụng di sản. Đúng như UNESCO nhận định “thiếu đi sự công nhận của cộng đồng thì không ai có thể quyết định cho họ rằng những sự biểu đạt hay tập quán đó là di sản của họ”. Cộng đồng là một phần của di sản và do đó, họ là những người hiểu rõ nhất về nội dung cũng như giá trị của di sản. 12 * Đặc điểm của DSVH vật thể Thứ nhất, DSVH vật thể thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người.
Thứ hai, DSVH vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo, kết quả lao động của con người biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống của con người Thứ ba, DSVH vật thể được khái quát hóa bằng nhiều phương pháp khác nhau tạo nên những giá trị văn hóa cao trong nền văn hóa của dân tộc, nâng cao được các giá trị phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế cho đất nước. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa * Quản lý nhà nước về văn hóa QLNN về văn hóa là hoạt động thực thi quyền hành nhà nước, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người thuộc các lĩnh vực văn hóa, do các cơ quan thuộc bộ máy hành chính tiến hành nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật về văn hóa, đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu hợp pháp về văn hóa của con người, hướng tới xây dựng “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Văn hóa là một phạm trù rất rộng lớn.