Tổng quan luận án

Công tác quản lý di sản thế giới theo Công ước năm 1972 của UNESCO và pháp luật Việt Nam đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn nguyên trạng và phát huy giá trị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số 9229042) của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Trọng, do GS. Nguyễn Chí Bền hướng dẫn tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (năm 2023), tập trung nghiên cứu đề tài: "Quản lý di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội gắn với phát triển du lịch".

Về tính cấp thiết, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội được UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản Thế giới ngày 01/8/2010 dựa trên ba tiêu chí nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa; tính liên tục của tài sản với tư cách là một trung tâm quyền lực; và các tầng di tích, di vật phong phú. Sau 13 năm được ghi danh (tính đến thời điểm nghiên cứu năm 2023), việc khai thác phát huy giá trị di sản gắn với du lịch còn bộc lộ khoảng trống đáng kể giữa tiềm năng và kết quả thực tế. Khu di sản bắt đầu bán vé tham quan từ năm 2013 với 120.000 lượt khách; đến năm 2016 đạt 245.321 lượt; năm 2019 đạt 517.476 lượt khách với doanh thu 11,1 tỷ đồng. Dù năm 2019 ghi nhận sự tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam, nguồn thu và lượng khách tại Hoàng thành Thăng Long vẫn ở mức khiêm tốn, xếp thứ 7 trong số 8 di sản thế giới tại Việt Nam. Đánh giá của khách du lịch quốc tế và các doanh nghiệp lữ hành cho thấy hoạt động thuyết minh, diễn giải di sản và trải nghiệm dịch vụ tại điểm đến chưa đạt hiệu quả cao, chủ yếu dừng lại ở hoạt động tham quan đơn thuần. Về mặt học thuật, các nghiên cứu trước đây về di sản Hoàng thành Thăng Long phần lớn tập trung vào khảo cổ học, lịch sử, bảo tồn vật thể đơn lẻ hoặc các bài viết mang tính định hướng, thiếu một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới giác độ khoa học quản lý văn hóa kết hợp quản lý di sản với phát triển du lịch bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa lý luận và khảo sát thực tiễn công tác quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, gia tăng sức hấp dẫn của điểm đến trong thị trường du lịch. Nhiệm vụ nghiên cứu gồm:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch, giới thuyết các khái niệm công cụ, lựa chọn lý thuyết vận dụng và xác định khung phân tích.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch tại địa bàn nghiên cứu.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được tác giả xác định tương ứng:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Giá trị của Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội có thể được tạo thành sản phẩm du lịch hấp dẫn được không?
    Giả thuyết nghiên cứu 1: Giá trị của Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội đủ điều kiện để tạo nên sản phẩm du lịch hấp dẫn.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Các di sản ở Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội đang được quản lý và phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch như thế nào?
    Giả thuyết nghiên cứu 2: Di sản tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội về cơ bản được quản lý đúng hướng, hoàn thành được một số nhiệm vụ và chỉ tiêu đặt ra, đạt được một số kết quả, song vẫn còn nhiều hạn chế về công tác quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Làm thế nào để quản lý di sản một cách hiệu quả gắn với phát triển du lịch tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội?
    Giả thuyết nghiên cứu 3: Giải pháp được tiếp cận trên cả hai hướng: quản lý di sản thế giới theo Công ước và hướng dẫn của UNESCO, theo quy định của pháp luật hiện hành, thực hiện đầy đủ các cam kết đồng thời phát huy sự chủ động sáng tạo trong công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch tại điểm đến.

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch tại Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại vùng lõi có diện tích 18,395 ha trên địa bàn quận Ba Đình, gồm hai khu vực: Khu di tích Thành cổ Hà Nội (trục trung tâm Cột Cờ - Đoan Môn - Kính Thiên - Hậu Lâu - Bắc Môn và di tích Nhà, Hầm D67) và Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu; đồng thời xem xét vùng đệm có diện tích 108 ha. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực trạng từ năm 2010 (thời điểm ghi danh di sản) đến tháng 6 năm 2023; các tài liệu thứ cấp được mở rộng từ trước năm 2010; định hướng giải pháp hướng đến năm 2025, tầm nhìn 2030. Về nội dung, luận án tập trung vào công tác quản lý di sản thế giới theo quy định pháp luật Việt Nam và hướng dẫn của UNESCO gắn với hoạt động phát triển du lịch.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống tài liệu trong và ngoài nước theo ba nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu quốc tế về quản lý di sản văn hóa và du lịch: Peter Howard (2002) đặt ra các vấn đề cốt lõi: bảo tồn cái gì, vì sao bảo tồn và bảo tồn cho đối tượng nào. Carman và Sorensen (2009) phản ánh sự phát triển lý luận và thực tiễn quản lý di sản từ cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX. Ashworth và Larkham (1994) tiếp cận việc khai thác giá trị di sản như một ngành công nghiệp, phân định ba quan điểm: bảo quản nguyên gốc, bảo tồn kế thừa và bảo tồn phát triển. Tiếp đó, Ashworth (1997) phân tích các thành tố quy hoạch và quản lý khu di sản; Throsby nhấn mạnh tính hiệu quả ("efficiency") và hiệu lực ("effectiveness") trong kinh tế di sản. Về quản lý du lịch tại di sản, Arthur Pedersen (2002) cung cấp sổ tay thực hành của UNESCO về hoạch định chính sách, kiểm soát tác động du lịch; Giovanni Boccardi (2004) làm rõ phương pháp giám sát di sản dựa trên hệ thống chỉ số định kỳ; Li Hong phân tích rủi ro và vai trò các Trung tâm hạng 2 của UNESCO; Jimura Takamisu (2019) nghiên cứu mối quan hệ giữa di sản thế giới, cộng đồng địa phương và hoạt động bảo tồn; Rosenfeld (2008) cảnh báo nguy cơ suy thoái tài nguyên khi khai thác du lịch thiếu kiểm soát; các tác giả French và Craig-Smith, Cooper và Hall, Chris Cooper, John Fletcher và Alan Fyall nhấn mạnh nguyên tắc đảm bảo lợi ích cộng đồng bản địa và tính bền vững sinh thái - văn hóa. Bên cạnh đó là các tài liệu hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản thế giới, quản lý rủi ro thiên tai, đánh giá tác động di sản của UNESCO, ICOMOS, IUCN và ICCROM.

Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam về quản lý di sản văn hóa: Đặng Văn Bài phân tích công tác quản lý nhà nước, tính liên ngành và trách nhiệm quốc gia thành viên UNESCO; Nguyễn Thế Hùng (2013) đề xuất 6 nhóm giải pháp bảo vệ di sản trong tiến trình hội nhập; Nguyễn Quốc Hùng (2004, 2018) nghiên cứu tiêu chí giá trị nổi bật toàn cầu (OUV) và tình trạng thiếu hụt nhân lực chuyên môn khảo cổ; Nguyễn Chí Bền (2010) xác định phương pháp luận bảo tồn nguyên vẹn và kế thừa đối với di sản Thăng Long - Hà Nội; Bùi Hoài Sơn (2005, 2013) cùng Phan Hồng Giang xác lập 5 yếu tố cấu thành quản lý văn hóa (chủ thể, khách thể, mục đích, biện pháp, hoàn cảnh) và phân định hai nhánh: quản lý nhà nước và phát triển sự nghiệp; Nguyễn Thị Kim Loan và Nguyễn Trường Tân (2014) hệ thống hóa nghiệp vụ kiểm kê, bảo quản di sản; Nguyễn Thịnh (2014) xem xét cơ cấu quản lý và vai trò tự quản của cộng đồng; Lưu Trần Tiêu đề cập bộ máy thanh tra, giám sát di tích; Lê Thị Thu Hiền (2018) đề xuất giải pháp đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành di sản. Ở cấp độ luận án tiến sĩ, Trịnh Ngọc Chung nghiên cứu mô hình quản lý tại Huế và Hội An; Nguyễn Bá Linh nghiên cứu quản lý Thành Nhà Hồ; Nguyễn Viết Cường (2021) phân tích thực trạng quản lý 8 di sản thế giới tại Việt Nam theo Công ước 1972; Nguyễn Thị Thống Nhất nghiên cứu kinh tế khai thác di sản miền Trung; Nguyễn Thị Thu Hà nghiên cứu quản lý di sản gắn với du lịch tại Hội An. Về kinh tế học di sản, Hà Hữu Nga tiếp cận các khái niệm giá trị, chi phí và ngoại ứng văn hóa.

Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về Hoàng thành Thăng Long: Báo cáo và tham luận tại các hội thảo khoa học quốc tế các năm 2015, 2018, 2020 và 2022 do UBND thành phố Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội và UNESCO phối hợp tổ chức ghi nhận đóng góp của: William Logan (yêu cầu quản lý dựa trên giá trị cốt lõi OUV); Nobuo Kamei (bảo tồn khảo cổ học và quản lý vùng đệm); Jean Francois Milou (thiết kế quy hoạch kiến trúc khu di sản); Olivier Tessier (hợp tác nghiên cứu với Viện Khảo cổ học và EFEO); Michael Croft (đánh giá Hoàng thành Thăng Long là mô hình ưu tiên bảo tồn có sự đầu tư nguồn lực của thành phố nhưng phát triển du lịch ở nhóm dưới); Trần Việt Anh (tổng kết 5 năm và 10 năm bảo tồn, kinh nghiệm quy hoạch di tích); Nguyễn Thanh Quang (2022) (kết quả thực hiện các cam kết của Thủ tướng Chính phủ với UNESCO, công tác nghiên cứu, bảo tồn, tôn tạo và khai thác di sản).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các công trình đã công bố tiếp cận Hoàng thành Thăng Long dưới góc độ khảo cổ học, lịch sử, kỹ thuật trùng tu hoặc đánh giá chính sách vĩ mô; một số bài viết về du lịch mang tính tổng quan, chưa phân tích thực nghiệm toàn diện các khâu quản lý gắn với thị trường du lịch. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: (1) Đánh giá thực trạng quản lý di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội dựa trên các nội dung quản lý cụ thể gắn với hoạt động phát triển du lịch; (2) Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, hoàn thiện bộ máy, phát triển nhân lực, ứng dụng công nghệ và xây dựng sản phẩm du lịch di sản đặc thù.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng cách tiếp cận chuyên ngành Quản lý văn hóa kết hợp liên ngành với Văn hóa học, Du lịch học, Xã hội học và Quản trị kinh doanh du lịch. Luận án vận dụng lý thuyết hệ thống quản lý di sản (theo hướng dẫn của UNESCO, ICCROM, ICOMOS) và mô hình cấu trúc quản lý văn hóa (chủ thể, khách thể, mục tiêu, biện pháp và môi trường quản lý) của Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn. Khung phân tích của luận án tập trung vào 5 nội dung quản lý di sản gắn với du lịch:

  1. Xây dựng và thực thi hệ thống văn bản quản lý, cơ chế chính sách.
  2. Quản lý tổ chức bộ máy, phát triển nguồn nhân lực chuyên môn.
  3. Quản lý nguồn lực tài chính, phân bổ ngân sách và thu hút vốn đầu tư xã hội hóa.
  4. Quản lý cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị dịch vụ du lịch.
  5. Quản lý hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch: xúc tiến quảng bá, diễn giải di sản, hợp tác quốc tế và giáo dục di sản qua du lịch trải nghiệm.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp tổng hợp, nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích dữ liệu thứ cấp từ văn bản pháp luật, hướng dẫn của UNESCO, báo cáo định kỳ của cơ quan quản lý di sản, số liệu thống kê du lịch từ các nguồn lưu trữ tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Phương pháp quan sát tham dự: Nghiên cứu sinh trực tiếp khảo sát hiện trường di sản Hoàng thành Thăng Long, ghi nhận thực trạng cơ sở hạ tầng, phương thức tiếp cận giao thông, luồng tuyến tham quan, và đóng vai du khách trải nghiệm dịch vụ thuyết minh, dịch vụ phụ trợ.
  • Phương pháp mô hình hóa: Phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội trong mối quan hệ với các cơ quan quản lý cấp trung ương và thành phố Hà Nội.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu (định tính): Tiến hành phỏng vấn sâu 19 cá nhân đại diện cho các nhóm liên quan, gồm: 4 cán bộ công tác tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội; 2 chuyên viên cơ quan quản lý nhà nước về di sản (Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL); 5 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý, bảo tồn di sản; 8 đại diện doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, du lịch. Dữ liệu phỏng vấn được xử lý bằng kỹ thuật tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh và phân tích hệ thống.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (định lượng): Khảo sát du khách trong nước và quốc tế đã trải nghiệm tại điểm đến Hoàng thành Thăng Long. Thời gian thực hiện từ ngày 15/07/2023 đến ngày 15/08/2023 (thuộc đợt khảo sát từ tháng 6 đến tháng 8/2023). Phiếu điều tra được phát trực tiếp tại điểm đến và qua kênh trực tuyến với sự hỗ trợ của các công ty lữ hành. Quy mô mẫu dựa trên cơ sở lý thuyết hồi quy đa biến: theo Harris (1985), cỡ mẫu tối thiểu bằng số biến độc lập cộng 50; theo Hair và cộng sự (2014), tỷ lệ tối thiểu là 5 quan sát trên 1 biến, tỷ lệ lý tưởng là 10:1 hoặc 15:1. Với mô hình phân tích gồm 7 biến, tổng số phiếu phát ra là 708 phiếu, thu về 700 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 98,88%), đáp ứng yêu cầu phân tích hồi quy đa biến. Dữ liệu được lượng hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS.
Phương pháp thu thập Đối tượng / Nguồn dữ liệu Quy mô / Dung lượng Thời gian / Kỹ thuật xử lý
Phỏng vấn sâu Cán bộ quản lý di sản, cán bộ Cục Di sản văn hóa, chuyên gia di sản, doanh nghiệp lữ hành 19 người (4 cán bộ Trung tâm, 2 cán bộ quản lý nhà nước, 5 chuyên gia, 8 doanh nghiệp) Phân tích hệ thống, so sánh, tổng hợp nội dung định tính
Điều tra bảng hỏi Khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế tham quan Hoàng thành Thăng Long Phát ra: 708 phiếu
Thu về hợp lệ: 700 phiếu (tỷ lệ 98,88%)
Khảo sát từ 15/07/2023 - 15/08/2023; làm sạch dữ liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS
Quan sát tham dự Không gian điểm đến, hạ tầng giao thông, luồng khách, dịch vụ thuyết minh Vùng lõi di sản (18,395 ha) và vùng đệm (108 ha) Ghi nhận thực địa, đóng vai du khách trải nghiệm luồng tuyến
Nghiên cứu tài liệu Văn bản pháp luật, hướng dẫn của UNESCO, báo cáo quản lý, số liệu thống kê Tài liệu tiếng Việt, tiếng Anh, website UNESCO, ICOMOS Phân loại theo chủ đề quản lý di sản và phát triển du lịch

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 (dày 65 trang) thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận, khảo sát địa bàn và xây dựng khung phân tích cho luận án.

Về địa bàn nghiên cứu, luận án trình bày đặc điểm lịch sử và hiện trạng của Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. Khu di sản là trung tâm quyền lực chính trị liên tục trong 13 thế kỷ, từ thời kỳ tiền Thăng Long thế kỷ VII-IX (phủ thành Tống Bình - An Nam) qua các triều đại Lý, Trần, Lê (thế kỷ XI-XVIII) đến thời Nguyễn và giai đoạn lịch sử hiện đại. Ranh giới vùng lõi rộng 18,395 ha được giới hạn bởi các tuyến đường Hoàng Diệu, Độc Lập, Bắc Sơn, Điện Biên Phủ và Nguyễn Tri Phương; vùng đệm rộng 108 ha trên địa bàn quận Ba Đình. Các điểm di tích cấu thành điểm đến du lịch gồm:

  • Khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu: Khai quật từ tháng 12/2002, chia làm 4 khu A, B, C, D; phát lộ hệ thống tầng văn hóa dày đặc đè phủ lên nhau suốt 1300 năm với hàng triệu di vật kiến trúc, đồ gốm sứ; hiện tổ chức không gian tham quan và chương trình giáo dục "Em làm nhà khảo cổ".
  • Nền và thềm Điện Kính Thiên: Di tích trung tâm của Cấm thành Thăng Long, xây dựng trên núi Nùng thời Lê Sơ. Hiện còn lưu giữ thềm bậc với đôi rồng đá xanh chạm trổ thời Lê Sơ (thân rồng uốn lượn, chân 5 móng); thời Pháp thuộc bị phá hủy để xây sở chỉ huy pháo binh (Nhà Con Rồng); khu vực này được Bộ Quốc phòng bàn giao cho thành phố Hà Nội năm 2004 và đang triển khai dự án nghiên cứu phục dựng không gian kiến trúc.
  • Đoan Môn: Cổng chính phía Nam vào Cấm thành, xây dựng thời Lê và sửa chữa thời Nguyễn, kiến trúc hình chữ U với 5 cửa cuốn vòm đối xứng qua trục chính tâm (trục hoàng đạo); hố khảo cổ phát lộ dấu tích đường Ngự đạo thời Trần - Lê được bảo quản dưới mặt sàn kính chịu lực cho khách tham quan.
  • Hậu Lâu (Tĩnh Bắc Lâu): Diện tích 2.392 m2, nơi ở của hoàng hậu, công chúa thời Hậu Lê và cung tần thời Nguyễn; người Pháp cải tạo lại cuối thế kỷ XIX; kết quả khai quật năm 1998 xác định vết tích nền móng qua nhiều thời kỳ lịch sử.
  • Bắc Môn (Chính Bắc Môn): Cổng thành thời Nguyễn xây năm 1805 theo lối vọng lâu (cao 8,71 m; rộng 17,08 m; tường dày 2,48 m), còn lưu dấu vết đạn pháo quân đội Pháp bắn từ sông Hồng năm 1882; trên lầu đặt nơi thờ hai vị Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu.
  • Nhà và Hầm D67: Di tích cách mạng gắn với giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, là phòng họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương xây dựng năm 1967.

Về cơ sở lý luận, chương 1 xác lập hệ thống khái niệm công cụ: di sản thế giới, quản lý di sản, phát triển du lịch di sản, sức hấp dẫn của điểm đến. Luận án xây dựng Khung phân tích sử dụng trong luận án (Sơ đồ) và Bảng 1 "Khuôn khổ chung cho việc định nghĩa hệ thống quản lý di sản", làm căn cứ lý thuyết xuyên suốt để đánh giá thực trạng ở chương tiếp theo.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội gắn với phát triển du lịch

Chương 2 (dày 45 trang) đánh giá toàn diện hoạt động quản lý tại Hoàng thành Thăng Long dựa trên 4 nội dung lớn:

1. Xây dựng và ban hành văn bản quản lý: Luận án hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước (Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009; các Nghị định liên quan), các cam kết của Chính phủ Việt Nam với Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO, và các quy định của UBND thành phố Hà Nội về Quy chế quản lý khu di sản. Việc triển khai các văn bản pháp lý đã tạo hành lang bảo vệ di sản, song cơ chế đặc thù cho việc phát triển các dịch vụ du lịch và khai thác thương mại tại di sản văn hóa công quyền còn chậm được ban hành.

2. Chủ thể quản lý và cơ chế phối hợp: Đơn vị quản lý trực tiếp là Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội (được phân tích qua sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy). Luận án phân tích cơ chế điều hành với sự tham gia của Hội đồng tư vấn khoa học do Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội chủ trì, phối hợp với Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL), Viện Khảo cổ học, các tổ chức quốc tế (UNESCO, EFEO, Viện Nghiên cứu văn hóa Quốc gia Tokyo). Luận án ghi nhận thực trạng bàn giao mặt bằng qua hai bảng số liệu: "Thống kê thực trạng bàn giao mặt bằng diện tích Khu Thành cổ Hà Nội tính đến năm 2020" và "Thống kê thực trạng bàn giao mặt bằng diện tích Khu di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu tính đến thời điểm năm 2020", chỉ ra việc chuyển giao đất quốc phòng và di dời các hộ dân sinh sống trong khu vực di sản còn kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ quy hoạch đồng bộ.

3. Quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội: Luận án phân tích các nguồn lực thực thi qua hệ thống bảng biểu thống kê:

  • Về tài chính: Trình bày qua bảng và biểu đồ "Kinh phí sử dụng cho các hoạt động tại Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội giai đoạn 2016 - 2023", phản ánh sự phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước, tỷ trọng tái đầu tư từ nguồn thu dịch vụ du lịch còn thấp.
  • Về nhân lực: Trình bày qua bảng "Các khóa đào tạo, chương trình tập huấn, bồi dưỡng cho nguồn nhân lực tại các Di sản Thế giới (giai đoạn 2011 - 2020)", đánh giá đội ngũ cán bộ, thuyết minh viên còn thiếu kỹ năng ngoại ngữ chuyên sâu và năng lực diễn giải di sản đáp ứng nhu cầu du khách quốc tế.
  • Về lượng khách và nguồn thu: Trình bày tại bảng "Thống kê số lượng khách tham quan và doanh thu từ khách du lịch tại Di sản Thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020":
Năm Lượng khách tham quan (Lượt) Doanh thu từ dịch vụ du lịch (Tỷ đồng) Ghi chú
2013 120.000 - Bắt đầu triển khai bán vé tham quan
2016 245.321 - Tăng trưởng sau giai đoạn đầu mở cửa
2019 517.476 11,1 Đạt mức cao nhất trước đại dịch Covid-19; xếp 7/8 DSTG tại Việt Nam

4. Các hoạt động gắn kết phát triển du lịch: Luận án khảo sát các sản phẩm du lịch đã triển khai, bao gồm: "Tour 1 ngày trải nghiệm Hà Nội", tour "Hành trình di sản Kinh đô", tour đêm Hoàng thành Thăng Long, các chương trình giáo dục di sản và hoạt động quảng bá, giới thiệu di sản (được tổng hợp qua sơ đồ chuyên biệt). Tác giả chỉ ra mô hình hợp tác công - tư tại di sản còn lúng túng, sản phẩm du lịch còn mang tính tĩnh, trải nghiệm dịch vụ gia tăng còn nghèo nàn, chưa tạo được chuỗi giá trị kinh tế tương xứng với vị thế di sản thế giới.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội

Chương 3 (dày 39 trang) đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ các căn cứ thực tiễn: cam kết quốc tế với UNESCO, định hướng Quy hoạch tổng thể di sản Thăng Long - Hà Nội, Chiến lược phát triển du lịch Thủ đô, và kết quả xử lý dữ liệu điều tra 700 du khách cùng 19 chuyên gia.

Các nhóm giải pháp cụ thể gồm:

  1. Kiện toàn tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp: Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội; tăng cường phân cấp và ủy quyền; thiết lập quy chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Trung tâm với các sở, ngành (Du lịch, Quy hoạch Kiến trúc, Giao thông Vận tải) và chính quyền quận Ba Đình; hoàn thành dứt điểm công tác tiếp nhận bàn giao mặt bằng khu Thành cổ và 18 Hoàng Diệu.
  2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Xây dựng và chuẩn hóa "Quy trình đào tạo cơ bản" (Sơ đồ) cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên nghiệp vụ và hướng dẫn viên; mở các khóa bồi dưỡng chuyên đề về diễn giải di sản, ngoại ngữ chuyên ngành, kỹ năng giao tiếp và ứng xử du lịch; xây dựng chế độ đãi ngộ nhằm thu hút các chuyên gia khảo cổ, bảo tồn và quản trị du lịch.
  3. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch và nâng cao sức hấp dẫn điểm đến: Triển khai đề xuất tại bảng "Đề xuất nội dung nghiên cứu khảo cổ học giai đoạn 2023-2030" phục vụ diễn giải di sản; đẩy mạnh tiến độ dự án nghiên cứu phục dựng không gian Điện Kính Thiên; thực hiện sơ đồ "Đề xuất các bước thực hiện dự án phục dựng lễ hội Đèn Quảng Chiếu" để tạo sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể định kỳ; nâng cấp chất lượng "Tour 1 ngày trải nghiệm Hà Nội" và tour "Hành trình di sản Kinh đô"; áp dụng công nghệ số, thuyết minh tự động và ứng dụng tương tác 3D phục vụ du khách.
  4. Xây dựng mô hình hợp tác công tư (PPP): Vận dụng "Mô hình 3 trụ cột trong hợp tác công tư tại Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội" (Sơ đồ) nhằm thu hút nguồn vốn xã hội hóa cho các hạng mục dịch vụ du lịch phụ trợ, quà lưu niệm, ẩm thực cung đình, đồng thời đảm bảo nguyên tắc bảo tồn nguyên gốc di sản theo quy định pháp luật.
  5. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát định kỳ: Áp dụng sơ đồ "Hệ thống chỉ tiêu giám sát theo hoạt động" nhằm đo lường hiệu quả quản lý, tác động môi trường du lịch, sức tải của điểm đến và mức độ hài lòng của du khách, đảm bảo phát triển du lịch không gây tổn hại đến tính nguyên vẹn và tính xác thực của di sản thế giới.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn di sản theo Công ước năm 1972 của UNESCO và khai thác phát triển du lịch bền vững. Luận án xây dựng khung phân tích gồm 5 nội dung quản lý chuyên biệt cho di sản thế giới tại Việt Nam, đóng góp cơ sở lý luận cho ngành Quản lý văn hóa và cung cấp luận cứ khoa học cho việc phát triển du lịch di sản thế giới tại Thủ đô Hà Nội.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng chi tiết và có hệ thống về công tác quản lý tại Hoàng thành Thăng Long giai đoạn 2010 - 2023:

  • Lượng hóa các chỉ tiêu hoạt động: số lượng khách tham quan, doanh thu từ năm 2013 đến năm 2020; ngân sách sử dụng giai đoạn 2016 - 2023; tiến độ bàn giao mặt bằng và di vật khảo cổ đến năm 2020.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế: doanh thu du lịch còn khiêm tốn (11,1 tỷ đồng năm 2019, đứng 7/8 di sản thế giới tại Việt Nam); cơ sở vật chất dịch vụ chưa hoàn chỉnh; công tác thuyết minh, diễn giải di sản chưa đáp ứng kỳ vọng của khách quốc tế; tiến độ bàn giao mặt bằng còn vướng mắc.
  • Đề xuất các giải pháp mang tính ứng dụng: mô hình 3 trụ cột trong hợp tác công tư; quy trình đào tạo nhân lực; các bước phục dựng lễ hội Đèn Quảng Chiếu; kế hoạch nghiên cứu khảo cổ học giai đoạn 2023 - 2030; hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động quản lý di sản gắn với du lịch. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước, UBND thành phố Hà Nội và các doanh nghiệp du lịch trong việc hoạch định chính sách và khai thác sản phẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát định lượng du khách trong khoảng thời gian từ ngày 15/07/2023 đến ngày 15/08/2023 (thuộc đợt khảo sát từ tháng 6 đến tháng 8/2023), do đó dữ liệu phản ánh chủ yếu đặc điểm của khách du lịch trong mùa hè, chưa bao quát đầy đủ sự biến động theo tính mùa vụ của thị trường khách quốc tế (thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau). Mặt khác, phạm vi không gian khảo sát tập trung chủ yếu vào vùng lõi (Khu Thành cổ và Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu), các đánh giá tác động kinh tế - xã hội đối với cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng đệm 108 ha chưa được phân tích sâu do giới hạn tiếp cận dữ liệu dân sinh.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các nghiên cứu tương lai cần mở rộng theo dõi chuỗi số liệu giám sát định kỳ theo "Hệ thống chỉ tiêu giám sát theo hoạt động" đến năm 2025 và 2030; thực hiện các nghiên cứu liên ngành chuyên sâu về kinh tế học di sản, đánh giá mức độ sẵn sàng chi trả của du khách đối với các dịch vụ trải nghiệm văn hóa chất lượng cao; và khảo sát chuyên biệt tác động của các dự án phục dựng không gian Điện Kính Thiên đối với sự gia tăng sức hấp dẫn của điểm đến.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu trong các ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Du lịch học và Bảo tồn di sản; cung cấp phương pháp tiếp cận nghiên cứu kết hợp giữa khung lý thuyết của UNESCO với phương pháp định lượng xử lý bằng SPSS và phỏng vấn sâu chuyên gia.
  • Nhà quản lý văn hóa và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội và Ban quản lý các khu di sản thế giới khác tại Việt Nam có thể tham khảo mô hình 3 trụ cột hợp tác công tư, quy trình đào tạo nhân lực và hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động.
  • Doanh nghiệp du lịch và các nhà đầu tư: Các công ty lữ hành, đơn vị dịch vụ du lịch có thể khai thác các dữ liệu về đánh giá của du khách, tham khảo lịch trình "Tour 1 ngày trải nghiệm Hà Nội", tour "Hành trình di sản Kinh đô" và các định hướng sản phẩm văn hóa phi vật thể để xây dựng chương trình tour phù hợp với thị hiếu du khách trong và ngoài nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội được UNESCO ghi danh vào thời gian nào và đáp ứng các tiêu chí nổi bật nào?
Di sản được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào ngày 01/8/2010 tại kỳ họp lần thứ 34 của Ủy ban Di sản Thế giới, đáp ứng đủ 3 tiêu chí nổi bật toàn cầu (OUV): chiều dài lịch sử văn hóa; tính liên tục của tài sản với tư cách là một trung tâm quyền lực; và các tầng di tích, di vật phong phú.

2. Thực trạng số lượng khách tham quan và doanh thu du lịch của Hoàng thành Thăng Long trong giai đoạn trước đại dịch Covid-19 được ghi nhận như thế nào?
Khu di sản bắt đầu bán vé tham quan từ năm 2013 với 120.000 lượt khách; đến năm 2016 đạt 245.321 lượt khách; năm 2019 đạt 517.476 lượt khách với doanh thu từ dịch vụ du lịch đạt 11,1 tỷ đồng. Dù có sự tăng trưởng, kết quả này được đánh giá là còn khiêm tốn so với tầm vóc di sản thế giới, xếp thứ 7 trong số 8 di sản thế giới tại Việt Nam.

3. Mẫu khảo sát điều tra bảng hỏi trong nghiên cứu định lượng của luận án được tiến hành với quy mô và phương pháp ra sao?
Khảo sát được thực hiện từ ngày 15/07/2023 đến ngày 15/08/2023 trên đối tượng khách du lịch Việt Nam và quốc tế tại điểm đến và qua kênh trực tuyến. Tổng số phiếu phát ra là 708, thu về 700 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 98,88%). Quy mô mẫu 700 quan sát đáp ứng tiêu chuẩn của Harris (1985) và Hair và cộng sự (2014) cho mô hình hồi quy đa biến với 7 biến nghiên cứu, dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.

4. Phương pháp phỏng vấn sâu của luận án được thực hiện trên những nhóm đối tượng nào?
Tác giả đã phỏng vấn sâu 19 cá nhân, gồm: 4 người làm việc trực tiếp tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội; 2 chuyên viên quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL); 5 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản; và 8 đại diện các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và lữ hành.

5. Luận án đề xuất những giải pháp cụ thể nào nhằm tạo sản phẩm du lịch đặc thù tại Hoàng thành Thăng Long?
Luận án đề xuất: hoàn thiện dự án nghiên cứu phục dựng không gian Điện Kính Thiên; xây dựng các bước thực hiện dự án phục dựng lễ hội Đèn Quảng Chiếu nhằm tạo sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể; xây dựng nội dung nghiên cứu khảo cổ học giai đoạn 2023 - 2030; nâng cấp các tour chuyên đề gồm "Tour 1 ngày trải nghiệm Hà Nội" và tour "Hành trình di sản Kinh đô"; đồng thời ứng dụng mô hình 3 trụ cột hợp tác công tư để phát triển dịch vụ phụ trợ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Trọng đã làm rõ thực trạng công tác quản lý di sản thế giới gắn với phát triển du lịch tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội giai đoạn 2010 - 2023, chỉ ra khoảng cách giữa tiềm năng giá trị nổi bật toàn cầu và kết quả khai thác du lịch thực tế. Bằng việc kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu 19 chuyên gia và xử lý 700 phiếu khảo sát du khách qua phần mềm SPSS, tác giả đã cung cấp hệ thống số liệu thực chứng về bộ máy, ngân sách, nhân lực và các sản phẩm dịch vụ tại điểm đến. Hệ thống giải pháp được đề xuất bao gồm kiện toàn cơ chế phối hợp, chuẩn hóa quy trình đào tạo nhân lực, ứng dụng mô hình 3 trụ cột hợp tác công tư, phục dựng lễ hội Đèn Quảng Chiếu và thiết lập hệ thống chỉ tiêu giám sát định kỳ. Công trình đóng góp cơ sở khoa học cho chuyên ngành Quản lý văn hóa và là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý, chính quyền thành phố Hà Nội và các doanh nghiệp trong việc phát triển du lịch di sản bền vững.