Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về vấn đề quản lý di sản văn hóa Vấn đề quản lý di sản văn hoá (DSVH) trên thế giới không phải là quá mới mẻ và đã có những nhà nghiên cứu, nhà khoa học tiếp cận vấn đề này từ những thế kỷ trước. Cụ thể hơn, nhà khoa học Peter Howard [97] đưa ra nhận định là vào đầu thế kỷ XIX có những người say mê, yêu mến di sản và với niềm tin rằng bảo tồn DSVH là có lợi ích cho công chúng.
Hai tác giả Carman và Sorensen [110] trong công trình Nghiên cứu di sản: Các phương pháp và các cách tiếp cận nghiên cứu di sản một cách tổng quát và cũng đã phần nào phản ánh sự phát triển thực tiễn và quản lý di sản cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX là các hoạt động công cộng với những quan điểm, góc nhìn khác biệt khi nghiên cứu về quá khứ, về lịch sử. Bước sang thế kỷ XX, tại châu Âu đã xuất hiện các Hiệp hội di sản với mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản và công tác nghiên cứu về di sản đã phát triển cả lý luận và thực tiễn, thuật ngữ ngắn gọn quản lý di sản phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỷ XX. Hiện tại, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng DSVH không chỉ là những giá trị mang tính biểu tượng hay là những di tích, di chỉ, phế tích, những giá trị văn hóa được bảo vệ bao bọc tách biệt với thế giới bên ngoài mà DSVH còn phải được sống trong cộng đồng, được hoà mình vào dòng chảy thời gian, dòng chảy của kinh tế xã hội thế giới, và DSVH cũng phải có trách nhiệm đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia nói riêng và của thế giới nói chung. Hai nhà nghiên cứu Ashworth và Larkham trong tác phẩm Building a new heritage: tourism, culture and identity in the new Europe (Xây dựng di sản mới: du lịch, văn hóa và bản sắc ở châu Âu mới) năm 1994 [85] đã coi việc khai thác các giá trị DSVH như một ngành công nghiệp, mang đặc tính của sản phẩm, của công nghiệp chính vì thế việc quản lý cần có những phương thức đặc thù của ngành công nghiệp phù hợp với đặc tính, đặc điểm của di sản.
Ashworth, Larkdham cũng như Carman, Sorensen trong nghiên cứu của mình 11 cũng đưa ra quan điểm: bảo tồn nguyên gốc (bảo quản), bảo tồn có sự kế thừa, và bảo tồn phát triển. Trong 3 quan điểm trên, bảo tồn phát triển được nhiều học giả đồng tình và chấp thuận hơn cả. Trong một nghiên cứu về cách tiếp cận di sản ở Tây Âu mà tác giả Ashworth nghiên cứu làm tiền đề cơ sở cho nội dung trên, ông đã đưa ra những nhận định về cách tiếp cận bảo quản chiếm ưu thế trong nhiều năm ở châu Âu nhất là với những đồ tạo tác, những phế tích, những toà nhà còn sót lại, ví dụ như các tượng đài được lựa chọn và bảo vệ dựa theo các tiêu chí như tuổi tác hoặc giá trị nghệ thuật, các tiêu chuẩn bảo vệ hợp pháp, những di sản được bảo quản này sẽ phải do các chuyên gia (người giám hộ tài sản văn hóa công cộng) thẩm định. Sau đó, những năm 1960 chứng kiến sự thay đổi từ quan điểm bảo quản sang bảo tồn, mở rộng đối tượng quan tâm đến cả cảnh quan xung quanh, khu vực lân cận của di sản và những hoạt động tại khu vực đó.
Theo cách tiếp cận này, di sản sẽ đặt trong bối cảnh rõ ràng hơn, bảo vệ phải có mục đích cụ thể hơn, nâng cao chất lượng và kêu gọi được sự chung tay góp sức của các bên liên quan hơn nữa, cụ thể là các nhà quy hoạch, quản lý và cả các kiến trúc sư cũng như các nhà nghiên cứu. Các mục tiêu mở rộng ra không chỉ là giữ gìn, bảo vệ nữa mà còn liên quan tới việc tái tạo, phục hồi, thậm chí phục dựng các khu vực, đương nhiên các mục tiêu này phải nằm trong tổng thể kế hoạch quản lý sử dụng tài nguyên đất cũng như các hướng dẫn, chỉ thị về việc bảo vệ di sản. Quan điểm bảo tồn phát triển cùng với sự thay đổi rõ ràng theo hướng tiếp cận thị trường, thậm chí là thâm nhập thị trường, đưa di sản văn hóa, di tích lịch sử hòa mình cùng dòng chảy chung của toàn xã hội, cách tiếp cận coi di tích lịch sử như một sản phẩm và đương nhiên sản phẩm phải được lựa chọn theo các tiêu chí về hiệu năng sử dụng, nhu cầu tiêu dùng và được quản lý theo mô hình, theo quy trình được tiến hành nghiên cứu kĩ lưỡng thông qua những nghiên cứu về thị trường, thậm chí xuất hiện cả những yếu tố liên quan tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Tiếp nối hướng nghiên cứu này, tác giả Ashworth (1997) [86] lại thực hiện một công trình khác là Elements of planning and managing heritage sites (Các thành tố của quy hoạch và quản lý khu di sản), trong công trình mới này ông tiếp tục 12 nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là hướng tiếp cận bảo tồn phát triển, bên cạnh đó, tác giả Throsby cũng đưa ra những luận điểm về quản lý di sản văn hóa, coi công việc này là một ngành, một thành tố kinh tế đòi hỏi những người tham gia phải chú ý tới nhiều mặt liên quan như tài nguyên, nguồn nhân lực thực thi, các chính sách, các quy định pháp luật có tính ràng buộc, các quy chế hoạt động phải được xây dựng trên những căn cứ rất rõ ràng, mạch lạc và có sự liên kết cao.
Chính vì vậy, các nhà quản lý luôn phải tìm cách trả lời câu hỏi làm thế nào để bảo tồn và phát huy giá trị của DSVH sao cho hợp lý và hiệu quả nhất, cần đề cập tới 2 yếu tố “effiency” và “effectiveness” trong kế hoạch quản lý, kế hoạch hoạt động cũng như khi thiết lập hệ thống chỉ tiêu giám sát [111]. Tác giả Peter Howard (2002) [97] đặt ra câu hỏi cho các nhà quản lý: Bảo tồn cái gì? Lý do tại sao phải bảo tồn? Và bảo tồn cho đối tượng nào? Công tác bảo tồn là để giữ gìn một cách hoàn chỉnh, nguyên vẹn nhất có thể, giữ lại được tối đa những giá trị của di sản và từ đó khai thác, phát huy các giá trị của di sản trong đời sống. Bên cạnh đó, việc khai thác, phát huy giá trị di sản là công tác cần thiết, thậm chí là mang ý nghĩa quyết định trong việc đưa di sản vào thực tiễn cuộc sống đương đại. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra việc khai thác và phát huy giá trị của DSVH phải luôn quan tâm tới phát triển một cách bền vững, tránh tình trạng lạm dụng quá mức, khai thác di sản thái quá, xâm hại tới di sản thậm chí tác động tiêu cực tới mức không thể phục hồi, điều này gây nên những ảnh hưởng rất lớn không chỉ đối với di sản mà còn đối với địa phương sở hữu di sản và cộng đồng dân cư.
Các học giả Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về công tác quản lý di sản ví dụ tác giả Đặng Văn Bài với bài đăng tạp chí “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH” [2] đã đưa ra một số nội dung chủ yếu của công tác quản lý nhà nước đối với DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm: quản lý nhà nước bằng văn bản pháp luật (gồm có các văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH; quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý.); việc phân cấp quản lý di tích; hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố có tính chất 13 quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, tác giả cũng đề cập nhiều tới việc nhà nước quản lý và tạo cơ chế mở cho việc khai thác có hiệu quả di sản nhưng không thể đánh đổi giá trị di sản để lấy lợi ích kinh tế. Bên cạnh đó, tác giả Đặng Văn Bài đã bàn đến “Tính liên ngành trong hoạt động bảo tồn di sản văn hóa” [3] trong bối cảnh của Việt Nam như một hướng tiếp cận cần thiết và phù hợp với thực tiễn hệ thống quản lý DSVH hiện nay, di sản không chỉ là những hình khối vật chất bất động nằm nguyên một chỗ mà phải được khai thác đúng đắn các giá trị, vì vậy di sản phải được nhìn nhận từ nhiều góc độ, tiếp cận từ các ngành khoa học khác nhau để đánh giá đúng các giá trị nội tại của di sản, đặc biệt là gắn với khai thác, phát triển du lịch. Tác giả Nguyễn Thế Hùng - với Đề tài nghiên cứu Bảo vệ DSVH trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế năm 2013 [41] đề cập tới những ảnh hưởng của sự đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc bảo vệ DSVH. Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng hoạt động bảo vệ, phát huy trên các lĩnh vực DSVH vật thể và phi vật thể ở phạm vi cả nước với những thành tựu đạt được cũng như hạn chế.
Tác giả đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp chính nhằm đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH gồm: tăng cường công tác quản lý nhà nước; củng cố hoàn thiện bộ máy ngành; chính sách đầu tư; xã hội hóa; đào tạo nguồn lực con người; tăng cường hợp tác quốc tế… Ở Việt Nam, những bài viết, công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo đề cập tới quản lý di sản ngày càng xuất hiện nhiều hơn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm lớn tới các DSVH nói chung cũng như các DSTG tại Việt Nam nói riêng đã có nhiều chính sách nhằm bảo vệ, gìn giữ và khai thác, phát huy có hiệu quả giá trị của các di sản.