Chương 1: Khái quát về lịch sử và những đặc điểm của thành phố ĐàNăng.1 Khái quát về lịch sử: Thành phố có diện tích 1.256,24 km2, gồm 7 quận, huyện với 47 xã phường. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa thiên Huế, phía Nam và Tây Nam giáp tính Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông. Đà Nắng nằm ở toạ độ 180” kinh tuyến 16°17,30 vĩ tuyến Bắc, kéo dài từ đỉnh đèo Hải Vân dọc theo một vùng vịnh lớn đến cửa con sông Hàn rồi lượn hình cánh cung dọc theo bờ biển Đông từ núi Sơn Trà đến các ngọn núi Ngũ Hành Sơn và trải mình trên dấy núi Bạch Mã Trường Sơn hùng vĩ phía Tây — Tây Nam / 1 /. Phong cảnh Đà Nẵng đẹp tuyệt vời với non xanh, nước biếc núi một bên và biển một bên, có dòng sông Hàn uốn lượn vỗ đôi bờ, có bờ vịnh dọc biển Đông,có Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn.
Đà Nắng một địa danh theo ngôn ngữ Chăm có nghĩa là “ sông lớn “ hay là cửa sông cái, xuất hiện trên bản đồ Đại Việt từ thế kỷ XV. Người Châu Âu từ thé ky XVI dén XVIII thudng goi Turon hay Touron dé nhac tới đô thị này, từ 1888 tới 1945 người Pháp đặt tên mới là Tourane, nhưng đối với người Việt Nam luôn gọi cái tên Đà Nẵng cho thành phố biển này. : Ƒ + MYAHMAR " Thành phố Đà Nẵng chính thức thành lập vào năm 1888, được trích ra từ một phần lãnh thổ của tỉnh Quảng Nam. Đây là miền đất trù phú và quan trọng nhất của xứ Đàng Trong, dưới thời các Chúa Nguyễn.
Chính vì vậy từ thủa khai sinh, Đà Nẵng đã không thể tách rời đất Thuận Quảng / 1 /. Từ thế ký XVII, Hội An bắt đầu sa sút Đà Nẵng càng tỏ rõ tính ưu việt đầy tiểm năng của một cảng biển. Đến cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam đã hình thành 5 thành phố hiện đại đầu tiên. Trong 5 thành phố đó có 3 thành phố cap I (Sai Gòn, Hà Nội, Hải Phòng) và hai thành phố cấp II (Chợ Lớn, Đà Năng).
Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là 3 thành phố nhượng địa còn Sài Gòn, Chợ Lớn là 2 thành phố thuộc địa / 2 /. Mặc dù thành phố Đà Nẵng ra đời muộn hơn các thành phố ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, nhưng nó là thành phố cận đại ra đời sớm nhất ở Trung Kỳ. Sau khi Triều đình Huế ký kết Hiệp ước 1862, Pháp đòi ngay nhượng địa ở Đà Năng để lập cổ sở thương mại và đặt lãnh sự ở đây. Đà Nắng từ một vùng đất gần như bị bỏ quên đã trở thành một thành phố lớn thứ tư sau Sài Gòn, Hà Nội và Hải Phòng.
Thành phố Huế lúc đó tuy là kinh đô nhưng buồn tẻ, vắng lặng với một khu đô thị ở bên kia sông Hương, đối diện với kinh thành. Các đô thị khác cũng được gọi là thành phố nhưng thực ra còn rất nhỏ bé và không có tầm quan trọng /2/. Thành phố Đà Nắng được thay da đổi thịt cho đến năm 1940 trước khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 8 năm1!945 cách mạng thành công, Việt Nam tuyên bố giành độc lập từ tay Nhật - Pháp.
Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà vừa mới thành lập được vài tháng thì quân Pháp quay trở lại đánh Việt Nam. Quân Pháp chiếm đóng thành phố và Đà Nẵng trở thành một thành phố phục vụ chiến tranh. Chúng mở rộng sân bay, xây thêm các cầu tàu quân sự, đưa nhiều đầu máy xe lửa đến Đà Nắng. Song song với sự gia tăng của các đơn vị quân đội, hoạt động thương mại của Đà Năng cũng phát triển, đô thị tràn ngập dân cư từ các nơi đổ về để phục vụ cho bộ máy chiến tranh đang lớn lên từng ngày.
Đây là thời kì cực kì hỗn loạn của Đà Nắng. Cửa biển Đà Nắng là nơi các tàu chiến của Pháp đổ bộ vào miền Nam. Đà Nẵng đã trở thành căn cứ quân sự lớn, một cứ điểm chiến lược cho toàn bộ miền Trung của xứ Đông Dương. Trong thời gian này đoạn đường qua đèo Hải Vân ở Đà Nẵng là nơi chiến sự xảy ra ác liệt nhất / 3 /.
Cảnh vịnh Tourane (Đả Nẵng) được khắc in trong 0u ki của J.Baow cud thé ky XVII Ảnh: Tư liệu Tháng 5 năm 1954, quân Pháp thất bại hoàn toàn trên chiến trường Điện Biên Phủ, hiệp nghị Genevơ về hoà bình ở Đông Dương được kí kết.tạm thời chia làm hai miền với ranh giới là con sông Bến Hải nằm dọc theo vĩ tuyến 17. Người Mỹ đưa quân trực tiếp tham gia chiến tranh ở miền Nam năm 1965. Đà Nắng có cảng biển lớn, có hạ tầng quân sự hiện đại, có sân bay vận tải cỡ lớn, có hệ thống đồn bốt, có đường thông sang Lào nên người Mỹ đổ tiền vào xây dựng thành phố này thành một tổ hợp quân sự, tổng kho hậu cần và là nơi tập kết quân đội. Toan cảnh hạm đội liên quân Phdp - Téy Ban Nha nd sing tấn cóng Đà Nẵng ngày 1-9-1958 Ảnh Tư liệu Bán đảo Sơn Trà trở thành khu vực cấm, dành riêng cho quân đội.
Một đặc khu huấn luyện người nhái và biệt kích được xây dựng ngay dưới chân núi. Người Mỹ đã cho xây dựng thêm một chiếc cầu bắc qua sông Hàn để dành riêng cho vận tải quân sự. Đà Nẵng trở thành trung tâm đầu não quân sự của cả vùng miền Trung. Ngoài ra Mỹ cho xây dựng hàng rào Macnamara cắt ngang con đường mòn Hồ Chí Minh từ ngoài Bắc tiếp tế vào Nam và con đường sang Lào.
Đà Nẵng đã thành một đặc khu quân sự có tới hàng ngàn binh lính và sĩ quan Mỹ. Các quán bar, vũ trường, tụ điểm ăn chơi mọc lên san sát ven bờ sông Hàn phục vụ cho quân đội Mỹ. Nhịp sống thành phố trở nên sôi động ,các nhà thầu cung cấp dịch vụ cho Mỹ giầu lên rất nhanh. Nghề buôn bán, xuất nhập - cảng với nước ngoài để cung cấp dịch vụ cho binh lính tăng nhanh nhưng nghành công nghiệp, ngư nghiệp và nông nghiệp phát triển chậm.
Tuy nhiên, do sự tập trung quân đội binh lính đồn trú ở đây, do sự lưu thông hàng hoá dịch vụ, do hoạt động của các sân bay cửa cảng cho-nên du lịch Đà Nẵng trong thời kỳ này đã có những bước phát triển. Các địa danh du lịch thu hút là Ngũ Hành Sơn, bãi biển Mỹ Khê, đèo Hải Vân, bảo tàng Champa, cảnh quan doc 2 bên sông Hàn. Dân số của thành phố đã tăng từ 150.000 người năm 1964 lên tới 500.000 người vào năm 1975. Người dân sống chủ yếu vào nghề công chức, thợ thuyền, phu bốc vác, buôn bán nhỏ và làm dịch vụ /3/.
Ngày 29 tháng 3 quân đội chủ lực tiến vào Đà Nắng, lực lượng cách mạng hoạt động bí mật trong nội thành phối hợp với bộ đội chủ lực đã tấn công vào các cứ điểm quân sự, hành chính của địch và thành phố Đà Nắng được hoàn toàn giải phóng. Chiến dich Dai thắng mùa xuân 1975 kết thúc, nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất. 6 Từ năm 1975 đến nay thành phố không ngừng phát triển về mọi mặt, từ một đô thị nghèo nàn đã trở thành một thành phố có vai trò quan trọng của Việt Nam. Quản xâm ước để bộ lên tả ngan sông Hàn đánh thành Điện Hãi - Ann Ty hey 1.2 Nhimg nét dac trung cua TP Da Nang 1.Van hoa: Những nét đặc trưng văn hoá Việt Nam được thông qua con người Đà năng rất rõ nét.
Người dân sống với nhau có tình cảm nồng hậu, trọng đạo đức nhân nghĩa, thích cuộc sống thanh bình. Nhưng trước sự tấn công của văn hoá Pháp từ. cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những đặc trưng đó đã bị chao đảo và dần mai một. Nền văn hóa Pháp đã du nhập vào Da Nẵng cả văn hoá vật chất lẫn văn hoá tỉnh thần.
Bảo tàng Chăm với tên ban đầu "Phòng Bao tang Chăm Đà Nẵng "đã được xây dựng năm 1915 thực đân Pháp. Đây là một cơ sở văn hoá đặc sắc nổi lên giữa không khí hoạt động giao thông nhộn nhịp của thành phố thương mại, lưu giữ hàng trăm cổ vật quý của người Chăm /2/. BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỔ ĐÀ NẴNG dan OS HASH CHD Rahn PAA CA NẴNG Người dân Đà Nắng bắt đầu bị ảnh hướng lối sống phương Tây. Họ thích đi nhà hàng, chơi vườn hoa, sinh hoạt câu lạc bộ.
Các câu lạc bộ Đà Nắng, câu lạc bộ của người Hoa, câu lạc bộ của người Âu được thành lập và hoạt động thường - xuyên trong thành phố Đà Năng. Ngoài ra, còn có nhiều hoạt động thể thao thu hút thanh niên, thị dân và trí thức: sân quần ngựa ở khu người Âu, sân túc cầu ngoài trời. Khoảng năm 1943 — 1944, thành phố đã xây dựng sân vận động mới. Các hoạt động giao lưu văn hoá thường xuyên diễn ra .Các đoàn cải lương danh tiếng từ Sài Gòn ra, các đoàn ca kịch từ Huế vào, các gánh xiếc của Tạ Duy Hiển, Long Tiên, gánh xiếc người Anh đều đã đến đây và được chào đón nồng nhiệt.
Người dân thành phố thích nghe hát tuổng (hát bội). Rạp Thông Quang ở đường Quảng Nam (nay là đường Trưng Nữ Vương) và rạp Hoà Bình ở đường Marc Pourpr (nay là đường Phan Châu Trinh) thường xuyên đông khách. Khu nghỉ mát trên núi Bà Nà được xây dựng và chính thức khai thác từ năm 1919. Khách sạn, nhà nghỉ,biệt thự mọc lên như nấm để phục vụ cho người Au, Một hoạt động đáng kể trong van hod tinh thần của thành phố Đà Nắng là hoạt động tôn giáo.
Tôn giáo của Đà Nắng rất đa dạng, gồm : Thiên chúa giáo, Phật giáo, Cao Đài, Tình Lành. Trong đó Thiên Chúa giáo và Tin Lành thuộc văn hoá phương Tây. - Về Thiên chúa giáo Nhà thờ đầu tiên được xây cất ở Đà Nẵng là nhà nguyện trong thành Điện Hải. Đến năm 1903 Thiên chúa giáo ở Đà Nẵng vẫn thuộc giáo phận Qui Nhơn, giáo khu Huế.
Năm 1923 mới xây dựng Toà thánh thành phố. - Về Phật giáo Nhân dân Đà Nẵng theo Phật giáo cổ truyền. Một số chùa được xây dựng khắp thành phố: Chùa Phổ Đà, Võ Man, Diệu Pháp, Từ Tôn, Tường Quang, Từ Vân, Bảo Nghiêm, Vu Lan. Trong đó có hai chùa lớn là chùa Phổ Đà và chùa Vu Lan.
Nhiều chùa nổi tiếng như chùa Tam Thai, Từ Tam, Ứng Chơn ở núi Ngũ Hành và chùa Phước Hải ở làng Hải Châu được tu bổ nhiều lần dưới thời Minh Mạng cho đến thời Thanh Thai .(H6) - Về Cao Đài Đạo Cao Đài xuất hiện ở Nam Kỳ từ năm 1926 nhưng đến năm 1934 mới được lập Hội thánh @ truyền giáo Cao Đài ở Đà Nắng.