Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO HÌNH THỨC PPP 1. Tổng quan về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ 1. Các khái niệm về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ Đầu tư phát triển: được hiểu là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, máy móc thiết bị) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ là đầu tư cho xây dựng hệ thống giao thông đường bộ mới và cải thiện mạng lưới giao thông đường bộ đang tồn tại. Đầu tư vào mạng lưới giao thông đường bộ đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của thành phố, khu vực, quốc gia [44]. Lợi ích mà đầu tư phát triển HTGTĐB mang lại là nâng cao điều kiện của hệ thống GTĐB dẫn đến tiết kiệm được nguồn tài nguyên. Hiệu quả chính mang lại là: (i) chi phí hoạt động thấp hơn cho các phương tiện giao thông; (ii) giảm thiểu thời gian; (iii) giảm tai nạn và (iv) giảm chi phí môi trường.
Đặc điểm của đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ - Vốn đầu tư lớn, dự án công trình đường bộ thường thực hiện trong thời gian dài, đối với công trình thương mại thời gian thu hồi vốn dài. Thời gian giải ngân vốn kéo dài theo suốt quá trình thực hiện xây dựng dự án. - Các dự án hạ tầng đường bộ thường diễn ra tình trạng đội vốn do chịu tác động bởi nhiều yếu tố khách quan như chậm giải phóng mặt bằng, thời gian 8 thực hiệnkéo dài do chịu tác động của tự nhiên, giá nguyên vật liệu và nhân công thay đổi theo thị trường, kinh phí bù đắp giải phóng mặt bằng tăng, chi phí phát sinh. - Đối với hình thức đầu tư PPP, vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư tư nhân chỉ chiếm một phần, còn lại là vốn đi vay từ các tổ chức tín dụng, vốn góp của các nhà thầu, vốn huy động từ phát hành trái phiếu.
Vai trò đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ Xét trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh hệ thống HTGTĐB đóng vai trò cực kì quan trọng như sau: - Là một bộ phận của hạ tầng kinh tế, hạ tầng giao thông đường bộ có tác động trực tiếp đến các ngành kinh tế khác, HTGTĐB có vai trò quyết định trong việc bố trí hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Nó không chỉ đóng vai trò tiên phong cho việc bố trí cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội theo phạm vi không gian mà còn quyết định đến quy mô, tính chất của các công trình này. Là điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kện cho các luồng vận tải hàng hóa lưu thông thuận lợi, nhanh chóng, qua đó thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Đóng vai trò thu hút đầu tư, để tiết kiệm chi phí vận tải, các nhà đầu tư sẽ chỉ lựa chọn những địa điểm có điều kiện giao thông thuận lợi để đặt các cơ sở SXKD.
Khi HTGT tại một địa phương phát triển sẽ lôi kéo các nhà đầu tư đến với địa phương đó và hình thành lên những ngành kinh tế mới. Giúp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, sức cạnh tranh của nền kinh tế liên quan trực tiếp đến hai yếu tố là giá thành sản phẩm do chi phí vận tải giảm, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư. Là tiền đề quan trọng để hút nguồn FDI, góp phần quan trọng thu hút nguồn lực bên ngoài phát triển kinh tế xã hội. Một hệ thống HTGT đồng bộ, hiện đại thuận lợi sẽ là điều kiện để giảm chi phí giao lưu hàng hóa-một loại chi chiếm tỷ trọng lớn trong kinh doanh.
- Đối với phát triển xã hội, HTGT phát triển sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, cải thiện thu nhập và mức sống của người dân. Tác động đến phân bố lại dân 9 cư: Mỗi khi có tuyến đường mới được mở ra đồng nghĩa với điều kiện sống và điều kiện sản xuất kinh doanh của người dân ở hai bên đường được cải thiện, góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách giữa các vùng, miền. - Đối với quốc phòng, an ninh, với cuộc chiến tranh hiện đại lại càng phải có HTGT hiện đại, mới giải quyết được kịp thời những yêu cầu của cuộc chiến đặt ra. - Mặt khác, hệ thống giao thông đường bộ còn là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội giữa các nước láng giềng với nhau thông qua hệ thống cửa khẩu vùng biên.
Hội nhập kinh tế thế giới và khu vực càng sâu rộng vừa đặt ra nhiều cơ hội, song cũng đặt ra nhiều thách thức cho công tác phát triển HTGTĐB. Một trong những yêu cầu quan trọng của hội nhập là phải đảm bảo cho sự lưu chuyển hàng hóa với khối lượng lớn, với tốc độ nhanh, thuận lợi. Theo kinh nghiệm của các nước phát triển, để phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng-an ninh thì HTGTĐB phải đi trước một bước. Tuy nhiên, để phát triển được hệ thống HTGTĐB, đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề như: kỹ thuật, công nghệ, nguồn nhân lực và vốn đầu tư phát triển hệ thống HTGTĐB.
Trong số, các yếu tố đầu vào đó, yếu tố vốn đầu tư được coi là chìa khóa để giải quyết các yếu tố đầu vào khác, nguồn vốn cần để đầu tư cho phát triển HTGTĐB là rất lớn, thậm chí vượt quá khả năng của NSNN. Phân loại đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ a) Theo đối tượng đầu tư: - Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông tĩnh: là đầu tư để cải tạo, nâng cấp, xây mới các điểm đầu cuối, các điểm trung chuyển hàng hóa và các điểm dừng dọc tuyến đường bộ như bến xe, nhà chờ xe bus, bãi đỗ xe… - Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông động: là đầu tư để cải tạo, nâng cấp, xây mới mạng lưới đường bộ và các công trình trên tuyến như đường, cầu, cầu vượt, nút giao thông. 10 b) Theo mục đích đầu tư - Cải thiện điều kiện: đề cập đến chi phí để cải thiện điều kiện của HTGTĐB hiện tại để giảm thiểu chi phí bảo trì liên tục. - Nâng cấp loại công trình: đề cập đến chi phí để nâng cấp loại HTGTĐB hiện tại đến một mức độ phù hợp với yêu cầu của nó.
- Mở rộng mạng lưới: đề cập đến chi phí để tạo HTGTĐB mới mà trước đây chưa tồn tại. - Bảo trì tài sản: đề cập đến chi phí để bảo trì mạng lưới cuối cùng trong việc cải thiện, nâng cấp hoặc mở rộng nó. c) Theo nguồn vốn đầu tư - Đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước Vốn Nhà nước + Đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước. + Đầu tư bằng vốn Nhà nước ngoài ngân sách: trái phiếu Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước.
- Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài Nguồn vốn đầu tư nước ngoài + Vốn tài trợ phát triển chính thức ODA. + Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế. + Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. - Đầu tư bằng nguồn vốn khác + Nguồn vốn từ khu vực tư nhân.
+ Nguồn vốn từ thị trường vốn. Khái niệm, đặc điểm của hình thức đối tác công tư 1. Khái niệm đối tác công tư Thuật ngữ đối tác công tư (PPP - Public Private Partnerships) được định nghĩa dưới nhiều khía cạnh và quan điểm khác nhau, tùy theo bối cảnh và mục đích nghiên cứu.PPP ở môi trường Việt Nam được định nghĩa là hình thức đầu 11 tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng dự án giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình hạ tầng, cung cấp dịch vụ công. Có thể nhận thấy thuật ngữ đối tác công tư mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể khẳng định PPP là một quan hệ đối tác, liên quan đến chia sẻ các mục tiêu, rủi ro và trách nhiệm dự án trong một khuôn khổ hợp tác.
Một mối quan hệ đối tác Nhà nước – Tư nhân được đánh giá là chặt chẽ khi phân định một cách hợp lý các nhiệm vụ, nghĩa vụ và rủi ro mà mỗi bên phải gánh vác. Đặc điểm của hình thức đối tác công tư - Khu vực tư nhân chịu trách nhiệm thực hiện hoặc vận hành dự án và gánh phần lớn rủi ro dự án có liên quan. - Trong suốt vòng đời của dự án, khu vực Nhà nước có vai trò giám sát hoạt động của khu vực tư nhân và thực thi các điều khoản của hợp đồng - Chi phí của khu vực tư nhân có thể được thu hồi toàn bộ hoặc một phần từ mức phí liên quan đến sử dụng các dịch vụ được cung cấp bởi dự án và có thể được thu hồi thông qua thanh toán từ Nhà nước. - Các khoản thanh toán của Nhà nước dựa trên thỏa mãn các tiêu chuẩn thực hiện được ghi trong hợp đồng.
- Thông thường khu vực tư nhân sẽ đóng góp phần lớn chi phí vốn của dự án. Các hình thức đối tác công tư a) Xét theo cơ chế thanh toán: Có 2 hình thức PPP: - PPP dựa trên thu phí của người sử dụng (User-Fee PPPs) - PPP dựa trên mức độ sẵn sàng thực hiện dịch vụ (Availability-Based PPPs) b) Xét theo hình thức hợp đồng - Hợp đồng dựa trên hình thức nhượng quyền (quyền sở hữu tài sản): Thuộc sở hữu của tư nhân: hợp đồng BOO; Hợp đồng nhượng quyền: hợp đồng 12 BOT, BTO; Hợp đồng cho thuê: hợp đồng BLT, BTL; Hợp đồng quản lý: hợp đồng O&M. - Hợp đồng dựa trên giai đoạn chuyển giao: Chuyển giao ngay sau khi xây dựng: hợp đồng BTO, BTL, BT; Chuyển giao sau giai đoạn kinh doanh: hợp đồng BOT, BLT; Không yêu cầu chuyển giao: hợp đồng BOO.