Tổng quan nghiên cứu

Lễ hội Xương Giang tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang là một sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc sắc gắn liền với Di tích lịch sử quốc gia Địa điểm chiến thắng Xương Giang. Nơi đây từng ghi dấu chiến công hiển hách năm 1427 của nghĩa quân Lam Sơn do vua Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo, đập tan hơn 50.000 quân viện binh nhà Minh trên diện tích thành cổ rộng 27 ha với chu vi 2.199 mét. Sau khi chính thức được phục dựng từ mùa xuân năm 1998 và tổ chức quy mô lớn tại quần thể Đền Xương Giang rộng 10 ha từ năm 2017 đến năm 2019, lễ hội đã thu hút hàng vạn lượt du khách mỗi dịp đầu xuân.

Tuy nhiên, thực tiễn công tác tổ chức và quản lý lễ hội đang bộc lộ những xung đột sâu sắc giữa yêu cầu quản lý nhà nước mang tính hành chính và việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân gian truyền thống. Hiện tượng hành chính hóa, sân khấu hóa quá mức đang làm mờ nhạt vai trò chủ thể sáng tạo của cộng đồng cư dân bản địa.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa với đề tài "Quản lý lễ hội Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang" do học viên Nguyễn Ngọc Hải thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Trọng Toàn tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương nhằm giải quyết triệt để vấn đề này.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng công tác tổ chức và quản lý lễ hội Xương Giang trong giai đoạn 2017 - 2019, nhận diện rõ những thành tựu cùng 4 nhóm hạn chế cơ bản trong cơ chế vận hành. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa, hướng tới mục tiêu tăng tỷ lệ hài lòng của du khách lên trên 85%, bảo tồn nguyên vẹn 14 điểm di tích thành phần và chuyển hóa các giá trị di sản thành nguồn lực phát triển kinh tế du lịch bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của hai nền tảng lý luận chính: Thuyết Quản lý văn hóa hiện đại và Lý thuyết Quản lý di sản dựa vào cộng đồng (Community-based Heritage Management). Khung lý thuyết này vận dụng các quan điểm học thuật chuẩn mực từ các công trình nghiên cứu quản lý lễ hội của Bùi Hoài Sơn, Cao Đức Hải và Dương Văn Sáu, kết hợp chặt chẽ với đường lối văn hóa của Đảng qua Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết 33-NQ/TW khóa XI.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác đa chiều giữa ba chủ thể: Cơ quan quản lý nhà nước (đóng vai trò định hướng, điều hành bằng pháp luật), Cộng đồng cư dân sở tại (chủ thể sáng tạo và thực hành tín ngưỡng) và Khách tham quan (chủ thể thụ hưởng dịch vụ văn hóa). Khung phân tích tập trung vào 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  • Lễ hội truyền thống - hiện đại: Loại hình lễ hội đan xen giữa nghi thức cúng tế cổ truyền và chương trình nghệ thuật sân khấu hóa đương đại.
  • Quản lý nhà nước về lễ hội: Sự can thiệp có tổ chức của hệ thống chính quyền thông qua hệ thống quy phạm pháp luật như Nghị định 110/2018/NĐ-CP và Quyết định 74/2013/QĐ-UBND tỉnh Bắc Giang.
  • Chủ thể quản lý cộng đồng: Quyền lực tự quản của các bô lão, ban đương cai và người dân bản địa trong việc gìn giữ phong tục.
  • Diễn trình lễ hội: Trật tự cấu trúc không gian - thời gian thực hành từ nghi lễ vào đám ngày mùng 5, chính hội ngày mùng 6 đến giã đám ngày mùng 7 tháng Giêng.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản: Hoạt động gìn giữ tính nguyên gốc của di tích lịch sử gắn với khai thác du lịch bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và chiều sâu học thuật, luận văn phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng chuyên sâu:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập và xử lý toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ Trung ương đến địa phương, bao gồm Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi 2009), Chỉ thị 41-CT/TW (2015), Quyết định 293/QĐ-BVHTT-DL xếp hạng di tích quốc gia năm 2009, các hồ sơ quy hoạch đền Xương Giang theo Quyết định 1883/QĐ-UBND và các bản báo cáo tổng kết mùa lễ hội 2017, 2018, 2019.
  • Phương pháp khảo sát điền dã và quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp tham gia điều hành tại Ban Quản lý di tích thành phố Bắc Giang, tiến hành quan sát trực tiếp toàn bộ diễn trình lễ hội tại 14 điểm di tích Xương Giang qua 3 mùa hội liên tiếp từ năm 2017 đến 2019.
  • Phương pháp chọn mẫu và phỏng vấn sâu: Thực hiện khảo sát trên cỡ mẫu 150 đối tượng thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, bao gồm 30 cán bộ quản lý văn hóa các cấp, 50 bô lão và đại diện ban đương cai các làng Thành, làng Vẽ, cùng 70 du khách thập phương. Việc lựa chọn phương pháp này giúp nắm bắt đa chiều các luồng ý kiến thực tế từ những người hoạch định chính sách đến người trực tiếp thực hành văn hóa.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: So sánh dữ liệu lịch sử trong Đại Việt sử ký toàn thư, Địa chí Hà Bắc với thực tiễn tổ chức đương đại nhằm đúc kết bài học kinh nghiệm và luận chứng tính khả thi cho các đề xuất quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Công tác khảo sát thực tế tại lễ hội Xương Giang giai đoạn 2017 - 2019 đã đem lại 4 phát hiện quan trọng có căn cứ số liệu rõ ràng:

  1. Cơ cấu bộ máy tổ chức mang tính hành chính hóa tuyệt đối: Ban tổ chức lễ hội năm 2019 được thành lập theo Quyết định 3823/QĐ-UBND gồm 22 thành viên, trong đó 100% là lãnh đạo các phòng, ban, cơ quan công quyền cấp thành phố (như Phó Chủ tịch UBND, Công an, Quân sự, Đô thị, Giáo dục). Tỷ lệ đại diện của cộng đồng dân cư sở tại hoặc các bậc cao niên làng Thành, làng Vẽ trong bộ máy chỉ đạo chính thức đạt mức 0%, cho thấy sự vắng bóng hoàn toàn của tiếng nói tự quản cộng đồng trong khâu ra quyết định.
  2. Quy mô hạ tầng và không gian lễ hội được nâng cấp đột phá: Dự án bảo tồn tôn tạo hoàn thành giai đoạn 1 đã mở rộng không gian trung tâm đền Xương Giang lên 10 ha với trục kiến trúc liên hoàn gồm cổng tam quan, nghi môn tứ trụ kình thiên, tòa tiền tế, thiêu hương và chính cung. Lễ hội năm 2019 đã huy động sự tham gia rước kiệu đồng loạt của 16 phường, xã toàn thành phố và thiết lập thành công 25 gian hàng không gian chợ quê "Ký ức Xương Giang".
  3. Mức độ sân khấu hóa lấn át không gian văn hóa dân gian: Trong khung thời gian lễ khai hội sáng mùng 6 Tết, hơn 70% thời lượng được dành cho nghi thức hành chính và chương trình nghệ thuật sử thi do diễn viên chuyên nghiệp thuộc Nhà hát Chèo Bắc Giang biểu diễn cùng các công ty sự kiện tư nhân dàn dựng. Kết quả điều tra cho thấy trên 80% người dân địa phương cảm thấy mình bị biến thành "người xem thụ động" thay vì là chủ thể trực tiếp tham gia diễn xướng tâm linh.
  4. Hiệu quả kinh tế - du lịch còn phân mảnh: Dù thu hút hàng vạn khách tham quan và trưng bày sản vật phong phú của 16 làng nghề (mỳ Kế, bánh đa Kế, bún Đa Mai), doanh thu từ các hoạt động dịch vụ văn hóa và đóng góp xã hội hóa chỉ chiếm khoảng 12% đến 15% tổng chi phí vận hành lễ hội, phần lớn kinh phí tổ chức vẫn phải phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ tư duy quản lý áp đặt mệnh lệnh hành chính, coi trọng tính quy chuẩn, trật tự và an toàn sự kiện hơn là tính sinh hoạt cộng đồng nguyên hợp. Sức ép tổ chức các sự kiện kỷ niệm dấu mốc lịch sử lớn (590 năm năm 2017, 592 năm năm 2019) vô hình trung đã đẩy lễ hội dân gian sang xu hướng lễ hội sự kiện hiện đại.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu quản lý lễ hội tiêu biểu như lễ hội đền Trần (Thái Bình), lễ hội Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và lễ hội Hoa Lư (Ninh Bình), luận văn chỉ ra rằng lễ hội Xương Giang có ưu thế vượt trội về quy hoạch không gian 10 ha hoàn chỉnh và sự đầu tư bài bản từ chính quyền. Tuy nhiên, mức độ quan phương hóa tại Xương Giang diễn ra đậm nét hơn, làm giảm đi chất mộc mạc và sự gắn kết cộng đồng vốn có từ lời bài tế dân gian ở đình làng Thành.

Dữ liệu khảo sát có thể được chuẩn hóa qua biểu đồ so sánh mức độ tham gia giữa khu vực đền chính (20% người dân trực tiếp tham gia nghi lễ) và khu vực hội làng truyền thống (hơn 80% cư dân chủ động điều hành), phản ánh sự phân cực rõ rệt giữa hai không gian văn hóa trong cùng một lễ hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá và khả thi cao nhằm đổi mới mô hình quản lý lễ hội Xương Giang:

  1. Tái cấu trúc Ban tổ chức theo mô hình đồng quản lý: Chính quyền thành phố cần ban hành quy chế mới, tái cơ cấu Ban tổ chức 22 người hiện tại theo hướng bổ sung tối thiểu 30% đến 40% thành viên là đại diện Ban đương cai đình làng Thành, các bậc cao niên uy tín và nghệ nhân dân gian từ 16 phường, xã. Đơn vị chủ trì: UBND thành phố Bắc Giang phối hợp Phòng Nội vụ, hoàn thành trước quý IV năm 2020.

  2. Trả lại quyền thực hành nghi lễ và diễn xướng cho nhân dân: Giảm 50% thời lượng các tiết mục biểu diễn của đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trong lễ khai hội; trao toàn quyền chủ trì nghi thức đọc chúc văn, nổi 108 hồi chuông trống và điều hành đoàn rước cho cộng đồng dân cư dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia văn hóa. Đơn vị thực hiện: Phòng Văn hóa - Thông tin và UBND phường Xương Giang, áp dụng từ mùa lễ hội năm 2020.

  3. Chuẩn hóa công tác quản lý dịch vụ, tài chính và vệ sinh môi trường: Thực hiện công khai minh bạch 100% nguồn thu tiền công đức và tài trợ xã hội hóa; quy hoạch chuẩn hóa 25 gian hàng sản vật làng nghề với giá niêm yết cố định; lắp đặt 50 thùng rác phân loại và cam kết thu dọn vệ sinh trong vòng 30 phút sau khi kết thúc phần hội. Đơn vị thực hiện: Đội Quản lý trật tự giao thông xây dựng và môi trường phối hợp Công ty Quản lý công trình đô thị Bắc Giang trong giai đoạn 2020 - 2021.

  4. Số hóa tư liệu di tích và xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch di sản: Thiết lập hệ thống thuyết minh tự động qua mã QR tại 14 điểm di tích Xương Giang; phát hành 10.000 ấn phẩm cẩm nang du lịch song ngữ và số hóa 3D không gian chiến trường năm 1427 nhằm thu hút học sinh, sinh viên và du khách quốc tế. Đơn vị thực hiện: Ban Quản lý di tích thành phố và Trung tâm Văn hóa - Thể thao thành phố, giai đoạn 2020 - 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách cấp cơ sở: Cung cấp khung năng lực quản trị lễ hội theo đúng Nghị định 110/2018/NĐ-CP, giúp lãnh đạo UBND cấp huyện, thành phố biết cách tháo gỡ điểm nghẽn hành chính hóa và xây dựng kế hoạch phân cấp quản lý khoa học.
  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học: Nguồn tư liệu thực chứng phong phú về phương pháp khảo sát điền dã, kỹ thuật phân tích xung đột di sản và hệ thống số liệu chuẩn xác về quy mô di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang.
  3. Ban Quản lý di tích và đại diện cộng đồng cư dân bản địa: Cẩm nang hướng dẫn chi tiết quy trình kết hợp hài hòa giữa nghi thức tế lễ cung đình và diễn xướng dân gian, giúp các bậc hương lão khẳng định quyền chủ thể trong việc bảo tồn 14 điểm di tích thành phần.
  4. Doanh nghiệp lữ hành và chuyên gia phát triển du lịch văn hóa: Cơ sở dữ liệu thị trường và ý tưởng thiết kế tour du lịch trải nghiệm lịch sử kết hợp thưởng thức ẩm thực tại 25 gian hàng làng nghề truyền thống Bắc Giang.

Câu hỏi thường gặp

  1. Lễ hội Xương Giang được tổ chức vào thời gian nào và quy mô ra sao? Lễ hội diễn ra định kỳ trong 3 ngày, từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Giêng hàng năm tại phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang. Quy mô lễ hội quy tụ 16 xã, phường tham gia rước kiệu, tập trung trên quần thể đền chính rộng 10 ha thuộc di tích quốc gia 27 ha, thu hút hàng vạn lượt khách thập phương trẩy hội mỗi mùa xuân.

  2. Nguồn gốc lịch sử và ý nghĩa chính của lễ hội Xương Giang là gì? Lễ hội khởi nguồn từ năm 1428 khi vua Lê Thái Tổ mở hội mừng chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang năm 1427, tiêu diệt 50.000 quân giặc Minh và chia đất "điền thành" cho 5 làng sở tại. Lễ hội mang ý nghĩa tri ân công đức anh hùng dân tộc, giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" và khơi dậy niềm tự hào lịch sử cho thế hệ trẻ.

  3. Tại sao cần kết hợp giữa quản lý nhà nước và quản lý cộng đồng trong lễ hội? Hiện tại, Ban tổ chức gồm 22 cán bộ công quyền khiến tính tự quản của dân cư bị hạn chế. Việc kết hợp hài hòa giúp nhà nước duy trì trật tự an ninh, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường, trong khi cộng đồng dân cư giữ trọn linh hồn, tính thiêng và sự sống động của các nghi thức tế lễ dân gian nguyên hợp.

  4. Những nghi thức đặc trưng nào diễn ra trong 3 ngày lễ hội Xương Giang? Sáng mùng 5 Tết là lễ vào đám, các hương lão nổi 108 hồi chuông trống và dâng lễ tế cáo. Sáng mùng 6 là chính hội với đoàn rước kiệu từ 16 phường xã, đọc văn tế ca ngợi chiến công và tái hiện trận đánh lịch sử. Sáng mùng 7 là nghi thức dâng hương giã đám và lễ rước hoàn cung tại đình làng Thành, làng Vẽ.

  5. Luận văn đưa ra giải pháp trọng tâm nào để phát triển kinh tế lễ hội? Nghiên cứu đề xuất chuẩn hóa không gian 25 gian hàng "Ký ức Xương Giang", liên kết chuỗi làng nghề đặc sản như bánh đa Kế, mỳ Kế, đồng thời số hóa thông tin 14 điểm di tích qua mã QR, nâng tỷ trọng đóng góp từ dịch vụ du lịch lên 25% đến 30% tổng nguồn thu lễ hội trong giai đoạn 2020 - 2025.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc của Di tích quốc gia Địa điểm chiến thắng Xương Giang trên không gian bảo tồn rộng 27 ha.
  • Khảo sát thực chứng toàn diện mô hình tổ chức và quản lý lễ hội Xương Giang giai đoạn 2017 - 2019 với đền chính 10 ha và cơ cấu Ban tổ chức gồm 22 cán bộ chuyên trách.
  • Chỉ rõ những bất cập then chốt về xu hướng quan phương hóa, sân khấu hóa làm suy giảm quyền chủ thể sáng tạo của cộng đồng cư dân 16 phường, xã tham gia.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp chuyển đổi sang mô hình đồng quản lý di sản, cân bằng giữa quản lý hành chính nhà nước và năng lực tự quản dân gian.
  • Đặt nền móng khoa học vững chắc để phát triển lễ hội Xương Giang thành sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử trọng điểm của tỉnh Bắc Giang tầm nhìn 2020 - 2030.

Công trình là nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên về quản lý lễ hội Xương Giang sau khi khánh thành quần thể đền mới, đóng góp tư liệu quý giá cho ngành Quản lý văn hóa Việt Nam. Lộ trình thực hiện khuyến nghị cần được triển khai ngay từ quý IV năm 2020 để tái cấu trúc ban tổ chức, tiến tới hoàn thiện chuyển đổi số di tích giai đoạn 2021 - 2023. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng nhân dân hãy cùng chung tay áp dụng những giải pháp khoa học này nhằm gìn giữ và phát huy hào khí Xương Giang bất diệt trong thời kỳ hội nhập.