Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm Múa và nghệ thuật Ballet (kịch múa) Nghệ thuật múa bao gồm nhiều thể loại khác nhau như múa Ballet, múa dân gian, múa truyền thống, múa tính cách, múa đương đại…. Vì vậy cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thật đầy đủ, chính xác về nghệ thuật múa. Mỗi khái niệm đưa ra chỉ bao hàm được một khía cạnh nào đó, chính vì thế luận văn xin được trình bày một số những khái niệm về nghệ thuật múa như sau: Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ) đưa ra định nghĩa khái niệm về nghệ thuật múa như sau: Múa là loại hình nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình thức đặc biệt của nó. Cơ sở phản ánh của múa là những điệu bộ, động tác có liên hệ đến quá trình lao động, sự quan sát thiên nhiên và những ấn tượng có được từ thế giới xung quanh, những động tác đó được cách điệu hóa nghệ thuật [15,( tr 10)] Trong bách khoa toàn thư Mỹ đầu thế kỷ XX có nêu: Múa – đó là những động tác có tiết tấu của cơ thể hoặc một phần cơ thể được thực hiện với mục đích để phản ánh những cảm xúc hoặc phục vụ như là phương tiện biểu hiện những cảm xúc tôn giáo, như một phương tiện truyền đạt những tư tưởng của xã hội này hoặc xã hội khác”[38, tr.28] Tác giả Lê Ngọc Canh cũng đưa ra nhận định: Múa là một bộ môn nghệ thuật, phản ánh các hiện tượng của cuộc sống con người, qua hình thức đặc biệt của nó là những động tác, hình dáng điệu bộ các kiểu, luôn chuyển động trên các tuyến, đội hình và tiết tấu, giai điệu của âm nhạc, chuyển động trong không gian, thời gian.[ 02 (tr 16)] 15 Ngoài các khái niệm trên thì còn không ít những khái niệm khác nhau về múa, nhưng nhìn chung thì có thể tóm tắt như sau: Múa là một loại hình nghệ thuật, phản ánh các hiện tượng trong cuộc sống, phản ánh những xúc cảm, tư tưởng tôn giáo, xã hội bằng hình thức đặc biệt, thông qua những động tác, hình dáng điệu bộ, chuyển động trên các tuyến đội hình cùng tiết tấu và âm nhạc, chuyển động trong không gian và thời gian.
Khái niệm này giới thiệu nghệ thuật múa nói chung, mà trong đó, Ballet (múa Ba lê) được coi là một trong những thể loại nghệ thuật đỉnh cao trong nghệ thuật múa. Ở Việt Nam, Ballet được đọc là múa “ba lê”. Từ “Ballet” có nguồn gốc từ tiếng Pháp: “Ballette”. Từ tiếng Pháp này lại có nguồn gốc từ tiếng Ý “Balletto”, một dạng nói giảm nhẹ của từ “Ballo”, nghĩa là một điệu nhảy.[62] Kể từ khi múa Ballet xuất hiện ở châu Âu cách đây hàng trăm năm, hình thức nghệ thuật này đã dần trở nên phổ biến và được giảng dạy tại các trường múa trên khắp thế giới.
Tiền thân của múa Ballet là trò giải trí, tiêu khiển tại các buổi tiệc hoàng gia lớn của Ý thời kỳ Phục Hưng. Như vậy có thể hiểu múa Ballet là loại hình nghệ thuật được tạo ra bởi sự chuyển động của cơ thể người. Nó là một hình thức nhảy múa, biểu diễn trên sân khấu trước mặt khán giả. Ngày nay, khi nhắc đến Ballet, hình ảnh gợi lên trong tâm trí của hầu hết mọi người là các nữ vũ công duyên dáng nhún nhảy theo điệu nhạc với một chiếc váy xòe.
Tuy nhiên, lịch sử kéo dài qua nhiều thế kỷ của múa Ballet đã khiến hình thức nghệ thuật này thay đổi rất nhiều. Trên thực tế, múa Ballet trong quá khứ – đặc biệt trong giai đoạn mới hình thành – trông khác xa so với màn trình diễn hiện đại ngày nay. Ballet ngày nay mang tính kịch và một vở Ballet chính là một vở kịch được thể hiện bằng ngôn ngữ múa. Và kịch múa một thể loại tiêu biểu và lớn nhất của nghệ thuật múa.
Còn trong các trường đào 16 tạo chuyên nghiệp căn bản thì múa Ballet được gọi là bộ môn múa “Cổ điển Châu Âu” 1. Khái niệm Nghệ thuật biểu diễn Thuật ngữ: Nghệ thuật biểu diễn (NTBD) được hiểu là loại hình nghệ thuật được nghệ sĩ (chuyên nghiệp hoặc không chuyên) sáng tạo nhằm thể hiện cuộc sống bằng hình thức trình diễn trên sân khấu trước khán giả xem trực tiếp. NTBD là loại hình nghệ thuật sử dụng không gian của sân khấu để thể hiện, truyền tải nội dung của các tác phẩm đến với công chúng. Đây là lĩnh vực mang tính tổng hợp, đa ngành nghề, liên quan đến nhiều cá nhân, tập thể.
Nghệ thuật biểu diễn từ xưa đến nay đã bao hàm nhiều chức năng, các chức năng này gắn bó hữu cơ, không tách rời, chúng được thể hiện qua các tác phẩm sân khấu, ca, múa, nhạc… Ở đó, nó vừa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần, vừa góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, lối sống của đại bộ phận công chúng; vừa khơi dậy những suy tư của người nghệ sỹ ở người xem, vừa đem lại cho họ niềm vui trong cuộc sống… Theo PGS. Trần Trí Trắc: “Nghệ thuật biểu diễn là một trong những hình thái cao nhất biểu hiện mối quan hệ thẩm mĩ của con người với hiện thực, mối quan hệ này bao giờ cũng thống nhất biện chứng giữa nghệ sĩ và khán giả. Nghệ sĩ đi vào cuộc sống để nhận thức, khám phá thẩm mĩ của hiện thực, còn khán giả đến với nghệ thuật biểu diễn để nhận thức, khám phá thẩm mĩ trong tác phẩm” [48,tr.NSND Lê Ngọc Canh: “Nghệ thuật biểu diễn bao hàm những loại hình nghệ thuật có chung tính chất, đặc điểm, môi trường, không gian, thời gian trình diễn với sự sáng tạo của nhiều thế hệ trong tiến trình lịch sử hình thành, phát triển văn hoá của các tộc người, của xã hội trong mọi thời đại, thông 17 qua các loại hình nghệ thuật biểu diễn như ca, múa, nhạc, tuồng, chèo, diễn xướng… chúng chuyển động trong mọi không gian, thời gian trình diễn khác nhau. Sự chuyển động trình diễn ấy do các nghệ nhân, các nghệ sĩ thực hiện thông qua âm thanh, hình thể, điệu bộ, hình dáng của con người và cảm xúc, tâm hồn.
Những nghệ nhân, nghệ sĩ ấy lại tái tạo, bổ sung và hoàn thiện những bài bản đã có, đã tồn tại trong đời sống văn hóa cộng đồng.193-194] Như vậy, nghệ thuật biểu diễn là hoạt động đưa chương trình, tiết mục, vở diễn đến với công chúng qua sự trình diễn của diễn viên (chuyên nghiệp, bán chuyên hoặc không chuyên nghiệp), thể hiện hình tượng nghệ thuật, phản ánh cuộc sống. Nghệ thuật biểu diễn được thể hiện dưới các tác phẩm sân khấu, điện ảnh, ca, múa, nhạc… nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức, lối sống, nâng cao dân trí, thẩm mĩ, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của mọi người. Nghệ thuật biểu diễn ngoài chức năng phục vụ giải trí, còn nhằm nâng cao năng lực cảm thụ nghệ thuật, làm phong phú cuộc sống của con người và chuyển tải những thông điệp về giáo dục đạo đức, lối sống con người, sự cố kết cộng đồng… Nghệ thuật biểu diễn hướng con người đến một xã hội tốt đẹp, tăng cường năng lực cảm thụ và thưởng thức nghệ thuật của người dân; qua đó, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân. Nghệ thuật biểu diễn còn là thước đo, đánh giá sự phát triển của một xã hội, nói lên được trình độ văn hóa của một xã hội đó.
Khái niệm quản lý văn hóa Khái niệm “Quản lý văn hóa” (QLVH) , là cách gọi tắt của cụm từ “quản lý nhà nước về văn hoá”, có thể được hiểu như sau: 18 QLVH là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Ngoài ra, QLVH còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (ở nước ta là các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể; các cơ cấu dân sự; các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân…). QLVH ở nước ta là việc thực thi công tác quản lý từ Trung ương đến địa phương đối với các hoạt động văn hoá nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. QLVH ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm những nội dung chính sau đây: - Xác lập hệ quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức…), những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa – là cơ sở của việc xác lập nội dung và phương thức quản lý văn hóa… (trong các văn kiện chính thức của Đảng, Hiến pháp, trong Chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ).
- QLVH bao gồm việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch, xây dựng hành lang pháp lý (bao gồm luật, các cơ chế); xây dựng chính sách (nhằm khuyến khích sáng tạo, bảo đảm sự phát triển nền văn hoá của đất nước): chính sách kinh tế trong văn hoá – văn hoá trong kinh tế, chính sách xã hội hoá hoạt động văn hoá, chính sách thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển văn hoá và tài trợ của các nước, các tổ chức quốc tế cho văn 19 hoá; đào tạo cán bộ quản lý và thanh tra xử lý vi phạm trên lĩnh vực văn hoá v. Trong hoạch định chính sách, cần lưu ý đến tầm quan trọng của các chính sách đầu tư phát triển các nguồn lực (đặt biệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực) và phương tiện cho văn hóa. Tiếp theo là việc tổ chức, thực thi chính sách. Ngoài ra, QLVH còn có công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm.
Hoạt động văn hóa thực chất là những hoạt động sáng tạo, bảo quản, phân phối và sử dụng các giá trị văn hóa nhằm mục đích đưa văn hóa con người làm nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội. Đại hội Đảng IX cũng đã khẳng định: “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài lòng trong gia đình, cộng đồng và xã hội” [8, tr92].