Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghệ thuật biểu diễn là một thành tố trọng yếu trong đời sống văn hóa của mỗi quốc gia, phản ánh bản sắc dân tộc và đáp ứng nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ của nhân dân. Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nghệ thuật biểu diễn đã vươn lên thành một phân ngành chủ lực của các ngành công nghiệp văn hóa, tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm văn hóa, kích cầu du lịch và phát huy sức mạnh mềm quốc gia.

Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định rõ yêu cầu phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa. Quyết định số 1755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam xác định nghệ thuật biểu diễn là một trong 12 lĩnh vực trọng điểm, đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 tổng giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP cả nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (tháng 9/2023), giá trị tăng thêm của các ngành công nghiệp văn hóa giai đoạn 2018–2022 đóng góp trung bình 3,4% – 3,6% GDP (năm 2018 đạt 5,82%, năm 2019 đạt 6,02%).

Mặc dù có đóng góp kinh tế - xã hội đáng kể, hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn và hạn chế. Khung pháp lý hiện tại chủ yếu dừng lại ở cấp Nghị định (tiêu biểu là Nghị định số 144/2020/NĐ-CP), chưa được nâng lên thành Luật chuyên ngành để tạo lập hành lang pháp lý bao quát và đồng bộ. Thực tiễn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập: sự thiếu đồng bộ trong phân cấp quản lý hành chính, khoảng trống pháp lý đối với các sản phẩm nghệ thuật biểu diễn trên không gian mạng xã hội, các biểu hiện tiêu cực tại các cuộc thi người đẹp, người mẫu, tình trạng vi phạm bản quyền và sự suy giảm nguồn lực bảo tồn các loại hình nghệ thuật truyền thống. Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả Nguyễn Hữu Ngọc thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) với đề tài: "Hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đoàn Thị Tố Uyên.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là phân tích các vấn đề lý luận cơ bản, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế đồng bộ nhằm thúc đẩy ngành nghệ thuật biểu diễn phát triển nhanh và bền vững.

Để thực hiện mục đích trên, đề tài giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung nhất về nghệ thuật biểu diễn và pháp luật điều chỉnh nghệ thuật biểu diễn (khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết quản lý nhà nước, nội dung, tiêu chí và các nhân tố tác động đến quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật).
  2. Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến nghệ thuật biểu diễn và thực trạng hoạt động quản lý nhà nước tại Việt Nam; phân tích ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập pháp lý.
  3. Trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhằm đạt được các mục tiêu phát triển văn hóa đến năm 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoàn thiện pháp luật về nghệ thuật biểu diễn.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định pháp luật điều chỉnh các loại hình nghệ thuật biểu diễn (truyền thống và đương đại) dưới hai góc độ: bảo tồn giá trị văn hóa và phát triển giá trị kinh tế (công nghiệp văn hóa).
  • Phạm vi không gian: Hoạt động nghệ thuật biểu diễn được tổ chức trực tiếp và qua các phương tiện kỹ thuật số, trực tuyến trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát quá trình lập pháp và thực tiễn thi hành từ năm 1992 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nghệ thuật, cùng hệ thống văn kiện, nghị quyết của Đảng (Nghị quyết số 33-NQ/TW, Nghị quyết số 23-NQ/TW, Kết luận số 76-KL/TW của Bộ Chính trị, Văn kiện Đại hội XIII). Khung pháp lý nền tảng bao gồm Hiến pháp năm 2013 (Điều 41 và Điều 60), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Di sản văn hóa, cùng hệ thống các văn bản dưới luật chuyên ngành.

Về phương diện lý luận, tác giả làm rõ bản chất và định nghĩa của các khái niệm then chốt:

  • Nghệ thuật biểu diễn: Sự tổng hòa của loại hình nghệ thuật không gian và nghệ thuật thời gian, được sáng tạo bởi nghệ sỹ và truyền đạt đến công chúng bằng những hình tượng thống nhất giữa nội dung và hình thức. Tác phẩm nghệ thuật biểu diễn phản ánh hiện thực qua ít nhất hai lần sáng tạo (lần một của tác giả kịch bản/âm nhạc, lần hai của nghệ sỹ biểu diễn).
  • Hoàn thiện pháp luật về nghệ thuật biểu diễn: Quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống các quy định pháp luật chặt chẽ, thống nhất, toàn diện nhằm kiến tạo hành lang pháp lý và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn.

Khóa luận xác lập 5 nội dung cơ bản của pháp luật trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn:

  1. Quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước (chủ thể nòng cốt là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
  2. Quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục tổ chức biểu diễn nghệ thuật, tổ chức cuộc thi, liên hoan nghệ thuật và các cuộc thi người đẹp, người mẫu.
  3. Quy định về thẩm quyền và thủ tục cấp phép, thông báo, tạm dừng hoạt động hoặc thu hồi danh hiệu, giải thưởng.
  4. Quy định về chế tài và biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi sai phạm.
  5. Quy định về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật được thực hiện dựa trên hệ thống tiêu chí:

  • Tiêu chí về nội dung: Tính toàn diện, tính đồng bộ (không mâu thuẫn, chồng chéo với hệ thống pháp luật chung), tính phù hợp (tương thích với trình độ kinh tế - xã hội, thuần phong mỹ tục và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên) và tính khả thi.
  • Tiêu chí về hình thức: Văn bản ban hành đúng thẩm quyền, chuẩn mực về kỹ thuật lập pháp theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, bảo đảm tính công khai, minh bạch.

Các nhân tố tác động đến quá trình hoàn thiện pháp luật bao gồm: nhân tố chính trị; kinh tế - xã hội; truyền thống văn hóa dân tộc và thị hiếu thẩm mỹ; sự phát triển của khoa học công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế.

Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật;
  • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc, Vương quốc Anh và các nước ASEAN);
  • Phương pháp lịch sử - pháp lý (phân kỳ các giai đoạn lập pháp 1992–2012 và 2012–2023);
  • Phương pháp phân tích số liệu thống kê thực tế.

Nguồn dữ liệu của đề tài trích xuất từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê (9/2023), các văn bản chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng tư liệu thống kê quốc tế từ các cơ quan quản lý văn hóa các nước.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

Chương 1 xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết về nghệ thuật biểu diễn và sự cần thiết của sự điều chỉnh pháp luật. Tác giả phân tích 5 đặc điểm bản chất của nghệ thuật biểu diễn: (1) Tổng hòa của nghệ thuật không gian và nghệ thuật thời gian; (2) Tính thống nhất hữu cơ giữa nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện; (3) Tính hình tượng thông qua sự hóa thân của người nghệ sỹ; (4) Tính sáng tạo cá nhân đặc thù kết hợp thể chất và tinh thần; (5) Tính truyền đạt trực tiếp/gián tiếp đến công chúng (tác phẩm chỉ thực sự hoàn thiện khi được công chúng tiếp nhận).

Tác giả khẳng định vai trò của pháp luật là công cụ thể chế hóa đường lối của Đảng, thiết lập trật tự quản lý nhà nước, cân bằng giữa tự do sáng tạo nghệ thuật và bảo vệ thuần phong mỹ tục, an ninh tư tưởng. Khóa luận phân tích các nhân tố chi phối và xác định bộ tiêu chí nội dung (toàn diện, đồng bộ, phù hợp, khả thi) cùng tiêu chí hình thức lập quy.

Để tạo cơ sở tham chiếu, Chương 1 tổng hợp kinh nghiệm lập pháp và chính sách phát triển công nghiệp biểu diễn của một số quốc gia:

Quốc gia Khung pháp lý & Mô hình quản lý Chính sách tài chính & Đầu tư Đóng góp kinh tế tiêu biểu
Hàn Quốc Ban hành Luật Nghệ thuật biểu diễn từ năm 1975; quản lý theo hướng phi tập trung hóa, hợp tác công - tư; triển khai "Chiến lược toàn cầu hóa". Năm 2022, ngân sách nhà nước chi 2,4 tỷ USD cho văn hóa nghệ thuật, 1,1 tỷ USD cho công nghiệp nội dung. Hình thành các quỹ phát triển nghệ thuật. Lĩnh vực văn hóa và công nghiệp nội dung năm 2022 tạo ra khoảng 30,37 tỷ USD (40,7 nghìn tỷ Won) cho GDP.
Trung Quốc Coi 10 ngành công nghiệp văn hóa là sản nghiệp trụ cột; ban hành Luật đảm bảo dịch vụ văn hóa công cộng, Luật thúc đẩy sản nghiệp điện ảnh, Luật bản quyền tác giả. Năm 2017 đầu tư cho công nghiệp văn hóa đạt 5,2 tỷ USD (38.000 tỷ NDT). Thành lập Quỹ đặc biệt xây dựng và tổ chức chương trình nghệ thuật tiêu biểu. Năm 2018, công nghiệp văn hóa đạt 600 tỷ USD (4.117,1 tỷ NDT), chiếm 4,30% GDP. Lợi nhuận năm 2022 đạt 174,5 tỷ USD.
Vương quốc Anh Áp dụng mô hình "nhà bảo trợ" theo nguyên tắc "chiều dài cánh tay" (arm's length) để bảo đảm quyền tự chủ sáng tạo; xây dựng đạo luật về kinh tế sáng tạo. Ngân sách nhà nước đầu tư khoảng 764 triệu USD (600 triệu Bảng)/năm. Giảm thuế VAT từ 20% xuống 5% cho du lịch; hoàn thuế VAT cho nhà hát, dàn nhạc. Năm 2019, kinh tế sáng tạo đóng góp 146,4 tỷ USD (115 tỷ Bảng), chiếm 5,9% nền kinh tế, tạo ra 2,1 triệu việc làm.
Các nước ASEAN Philippines ban hành Đạo luật Phát triển công nghiệp sáng tạo; Indonesia tập trung bảo hộ bản quyền và phân ngành thời trang, thủ công, ẩm thực. Hỗ trợ vốn và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp sáng tạo vừa và nhỏ tại Thái Lan và Philippines. Philippines (2022): đạt 1,1 tỷ USD (7,3% GDP), 6,98 triệu lao động. Thái Lan (2021): đóng góp 6,81% GDP với 82.072 doanh nghiệp sáng tạo.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 phân tích tiến trình lập pháp và đánh giá thực trạng hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam qua hai giai đoạn lịch sử chính:

1. Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2012

Giai đoạn đầu đổi mới, hoạt động biểu diễn chủ yếu do các đoàn nghệ thuật công lập thực hiện, được bao cấp 100% kinh phí. Văn bản nền tảng giai đoạn này là Nghị định số 87/1995/CP ngày 12/12/1995 quy định quản lý hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa nơi công cộng. Quyết định số 32/1999/QĐ-BVHTT quy định về việc cấp "Thẻ hành nghề" cho hàng nghìn nghệ sĩ biểu diễn. Tuy nhiên, cơ chế cấp thẻ hành nghề đã bộc lộ bất cập và chính thức bị bãi bỏ bởi Nghị định số 59/2002/NĐ-CP ngày 04/6/2002. Sau đó, Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 47/2004/QĐ-BVHTT ban hành Quy chế hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp (thay thế Quy chế 32). Giai đoạn này cũng ghi nhận việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW năm 2008 của Bộ Chính trị và Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2010.

2. Giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2023

Thời kỳ đẩy mạnh xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2012/NĐ-CP, sau đó được sửa đổi bởi Nghị định số 15/2016/NĐ-CP và hướng dẫn bởi các Thông tư số 01/2016/TT-BVHTTDL, Thông tư số 10/2016/TT-BVHTTDL. Chế tài xử phạt hành chính được quy định tại Nghị định số 158/2013/NĐ-CP và Nghị định số 28/2017/NĐ-CP.

Bước chuyển căn bản được xác lập khi Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 (hiệu lực từ 01/02/2021) gồm 5 chương và 31 điều. Nghị định này thay đổi tư duy quản lý từ phương thức "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", phân cấp triệt để quyền chấp thuận biểu diễn cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo đảm quyền tự do sáng tạo và quyền tiếp cận văn hóa theo Hiến pháp 2013. Đi kèm với đó là Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo. Về quy hoạch ngành, Quyết định số 1456/QĐ-TTg ngày 19/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (thay thế Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg đã hết hiệu lực theo Quyết định số 25/2022/QĐ-TTg).

Tiến trình phát triển văn bản pháp luật về nghệ thuật biểu diễn:
1995: NĐ 87/1995/CP (Quy chế văn hóa công cộng, tiền kiểm)
1999: QĐ 32/1999/QĐ-BVHTT (Cấp thẻ hành nghề biểu diễn)
2002: NĐ 59/2002/NĐ-CP (Bãi bỏ thẻ hành nghề biểu diễn)
2004: QĐ 47/2004/QĐ-BVHTT (Quy chế biểu diễn chuyên nghiệp)
2012: NĐ 79/2012/NĐ-CP (Quy định biểu diễn, thi người đẹp, bản ghi âm/hình)
2016: NĐ 15/2016/NĐ-CP (Sửa đổi NĐ 79/2012/NĐ-CP)
2020: NĐ 144/2020/NĐ-CP (Chuyển sang hậu kiểm, phân cấp mạnh cho địa phương)
2021: NĐ 38/2021/NĐ-CP (Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa)

3. Đánh giá hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Khóa luận chỉ rõ hệ thống pháp luật hiện hành tồn tại những khoảng trống và mâu thuẫn:

  • Xung đột và chậm trễ trong ban hành văn bản dưới luật: Khi Nghị định số 144/2020/NĐ-CP có hiệu lực, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải ban hành Quyết định số 80/QĐ-BVHTTDL ngày 13/01/2022 để bãi bỏ Thông tư số 01/2016/TT-BVHTTDL và Thông tư số 10/2016/TT-BVHTTDL. Tuy nhiên, Thông tư số 15/2013/TT-BVHTTDL về Quy chế Hội đồng nghệ thuật vẫn chưa có thông tư thay thế kịp thời.
  • Thiếu đạo luật có hiệu lực pháp lý cao: Lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật chỉ được điều chỉnh ở cấp Nghị định, dẫn đến thiếu sự tương thích với các luật chuyên ngành khác (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế, Luật Sở hữu trí tuệ).
  • Bất cập về phân cấp và kiểm soát không gian số: Cơ chế phân cấp quản lý cho địa phương thiếu tính liên thông dữ liệu; chưa có chế tài kiểm soát hiệu quả đối với các sản phẩm nghệ thuật độc hại được phát hành xuyên biên giới trên không gian mạng và các nền tảng trực tuyến.
  • Chính sách đào tạo tài năng nghệ thuật đặc thù chưa thỏa đáng: Đào tạo nghệ thuật biểu diễn đòi hỏi quy trình tuyển chọn từ nhỏ, kéo dài tới 13 năm (9 năm trung cấp và 4 năm đại học), tỉ lệ 1 thầy/1 trò hoặc 2–3 thầy/giờ học, trong khi tuổi nghề của nghệ sĩ biểu diễn (xiếc, múa, tuồng, chèo) rất ngắn, nhưng các quy định về chế độ phụ cấp, tiền lương và đãi ngộ còn nhiều hạn chế.

Nguyên nhân của thực trạng trên bao gồm: việc thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách pháp luật còn chậm; sự phối hợp liên ngành giữa văn hóa, tài chính, công an, thông tin - truyền thông chưa chặt chẽ; công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng và xử phạt vi phạm chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của thị trường biểu diễn.


Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam hiện nay

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:

  1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hiệu quả công tác quản lý nhà nước: Đổi mới công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của nghệ sỹ, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp (hội chuyên ngành), đồng thời tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thanh tra văn hóa.
  2. Xây dựng và ban hành Luật Nghệ thuật biểu diễn: Đưa dự án Luật Nghệ thuật biểu diễn vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Đạo luật này cần quy định toàn diện: chính sách đầu tư phát triển công nghiệp biểu diễn; cơ chế đặt hàng và tài trợ; quyền tác giả và quyền liên quan; chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; phân định thẩm quyền và quy trình phối hợp kiểm soát hoạt động biểu diễn trực tiếp và trên không gian mạng.
  3. Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản dưới Luật: Khẩn trương ban hành Thông tư mới thay thế Thông tư số 15/2013/TT-BVHTTDL quy định chức năng, thẩm quyền của Hội đồng nghệ thuật phù hợp với cơ chế phân cấp của Nghị định số 144/2020/NĐ-CP; hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá tác phẩm nghệ thuật.
  4. Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra và chế tài xử lý vi phạm: Nâng cao hiệu lực của Nghị định số 38/2021/NĐ-CP; bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phát tán nội dung phản cảm, kích động bạo lực, vi phạm thuần phong mỹ tục trên môi trường Internet; thiết lập cơ chế giám sát liên ngành giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an và Bộ Thông tin và Truyền thông.
  5. Phát triển nghệ thuật biểu diễn gắn với chính sách kinh tế: Xây dựng cơ chế ưu đãi thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT) đối với các doanh nghiệp đầu tư vào nghệ thuật truyền thống; thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển nghệ thuật biểu diễn theo mô hình xã hội hóa; ban hành chính sách đãi ngộ đặc thù về lương, bảo hiểm xã hội và chế độ nghỉ hưu cho nghệ sĩ các ngành nghệ thuật đặc thù có tuổi nghề ngắn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận: Xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về pháp luật nghệ thuật biểu diễn, xác định 5 đặc trưng của nghệ thuật biểu diễn và thiết lập 4 tiêu chí nội dung (toàn diện, đồng bộ, phù hợp, khả thi) cùng tiêu chí hình thức để đánh giá mức độ hoàn thiện thể chế.
  • Phân kỳ lịch sử lập quy chính xác: Tổng hợp và phân tích toàn diện hai giai đoạn phát triển của pháp luật nghệ thuật biểu diễn từ năm 1992 đến năm 2023, làm rõ sự chuyển biến từ cơ chế "tiền kiểm" (cấp phép trước, cấp thẻ hành nghề) sang "hậu kiểm" và phân cấp quản lý theo Nghị định số 144/2020/NĐ-CP.
  • Phân tích số liệu và đối chiếu thực tiễn: Trích xuất các dữ liệu thực tế của Tổng cục Thống kê (đóng góp GDP trung bình 3,4% – 3,6% của ngành công nghiệp văn hóa giai đoạn 2018–2022) và số liệu đầu tư văn hóa quốc tế (Hàn Quốc chi 2,4 tỷ USD ngân sách văn hóa nghệ thuật; Vương quốc Anh hoàn thuế VAT, tạo 2,1 triệu việc làm).
  • Đóng góp về mặt giải pháp: Luận giải thuyết phục sự cần thiết phải nâng cấp khung pháp lý từ Nghị định lên Luật Nghệ thuật biểu diễn; kiến nghị sửa đổi kịp thời các văn bản dưới luật (đặc biệt là Thông tư về Hội đồng nghệ thuật) và đề xuất các giải pháp kinh tế - tài chính hỗ trợ công tác đào tạo kéo dài 13 năm của nghệ thuật truyền thống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài chủ yếu tập trung phân tích dưới góc độ pháp luật thực định và quản lý hành chính nhà nước tại Việt Nam; nguồn số liệu thống kê kinh tế về doanh thu chi tiết của từng phân ngành biểu diễn (nhạc kịch, xiếc, sân khấu truyền thống) chưa được bóc tách riêng lẻ do nằm trong danh mục chung của các ngành công nghiệp văn hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Nghiên cứu sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ bản quyền biểu diễn nghệ thuật trên môi trường số và các nền tảng phát trực tuyến xuyên biên giới.
    2. Xây dựng cấu trúc điều khoản và báo cáo đánh giá tác động chính sách phục vụ trực tiếp cho việc soạn thảo hồ sơ đề nghị xây dựng dự án Luật Nghệ thuật biểu diễn.
    3. Nghiên cứu mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong việc đầu tư, khai thác và vận hành các thiết chế văn hóa, nhà hát biểu diễn đa năng tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Cung cấp tài liệu tham khảo cho các môn học Luật Hành chính, Luật Sở hữu trí tuệ, Pháp luật về Di sản văn hóa và Xã hội hóa văn hóa.
  • Sinh viên khối ngành Văn hóa - Nghệ thuật: Cung cấp hiểu biết nền tảng về quyền, nghĩa vụ pháp lý của nghệ sĩ biểu diễn, quy trình xin chấp thuận tổ chức biểu diễn nghệ thuật và các chế tài xử phạt hành chính hiện hành.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ VHTTDL, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Sở VHTTDL): Cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và tham mưu xây dựng dự án Luật Nghệ thuật biểu diễn.
  • Các đơn vị tổ chức biểu diễn, doanh nghiệp giải trí: Tham chiếu các quy định pháp lý về thủ tục thông báo biểu diễn, tổ chức cuộc thi người đẹp/người mẫu và điều kiện lưu hành bản ghi âm, ghi hình.

Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2 với bức tranh toàn cảnh về tiến trình hoàn thiện thể chế và bảng đối chiếu các quy định tại Nghị định số 144/2020/NĐ-CP cùng các văn bản liên quan.


Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đưa ra định nghĩa thế nào về "Hoàn thiện pháp luật về nghệ thuật biểu diễn"?
Khóa luận xác định: Hoàn thiện pháp luật về nghệ thuật biểu diễn là quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng, ban hành được hệ thống các quy định pháp luật chặt chẽ, thống nhất và toàn diện, nhằm kiến tạo và điều chỉnh các quan hệ xã hội về nghệ thuật biểu diễn.

2. Điểm đổi mới căn bản nhất của Nghị định số 144/2020/NĐ-CP so với các quy định trước đây là gì?
Nghị định số 144/2020/NĐ-CP đã chuyển đổi phương thức quản lý từ "tiền kiểm" (cấp phép phức tạp) sang "hậu kiểm", tăng cường trách nhiệm tự chịu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia biểu diễn; đồng thời đẩy mạnh phân cấp quản lý toàn diện cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện trong công tác chấp thuận tổ chức biểu diễn và thi người đẹp, người mẫu.

3. Vì sao tác giả kiến nghị cần thiết phải ban hành "Luật Nghệ thuật biểu diễn" thay vì dừng lại ở cấp Nghị định?
Tác giả lập luận rằng chỉ khi được quy định bằng Luật, lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn mới có đầy đủ căn cứ pháp lý cao nhất để phát triển thành ngành công nghiệp văn hóa bền vững, đồng bộ với các luật hiện hành (Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thuế), giải quyết được 13 điểm nghẽn thể chế, xác lập rõ chính sách đầu tư, ngân sách nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của văn nghệ sĩ.

4. Khóa luận phân tích khó khăn đặc thù nào trong công tác đào tạo tài năng nghệ thuật biểu diễn?
Khóa luận chỉ ra rằng đào tạo nghệ thuật biểu diễn phải tuyển chọn từ nhỏ, thời gian học kéo dài đến 13 năm (9 năm trung cấp và 4 năm đại học), đòi hỏi phương thức truyền nghề 1 thầy/1 trò hoặc 2–3 thầy/giờ học. Trong khi đó, tuổi nghề biểu diễn rất ngắn, tốt nghiệp ở tuổi 17–18 nhưng các chính sách về lương, phụ cấp ưu đãi nghề và chế độ bảo hiểm xã hội hiện chưa theo kịp tính chất đặc thù này.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hữu Ngọc đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận, hệ thống hóa lịch sử lập pháp và đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật điều chỉnh nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam. Công trình đã chỉ ra những khoảng trống, bất cập của hệ thống thể chế hiện hành, đặc biệt là sự thiếu vắng của một đạo luật chuyên ngành và sự không đồng bộ của các văn bản dưới luật. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp mang tính khả thi, trọng tâm là xây dựng Luật Nghệ thuật biểu diễn và gắn kết chính sách văn hóa với các đòn bẩy kinh tế. Đây là công trình học thuật có giá trị tư liệu và thực tiễn cao, đóng góp tích cực vào tiến trình hoàn thiện thể chế phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của đất nước.