CHƯƠNG 1 NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUAT TRONG LĨNH VỰC NGHỆ THUAT BIEU DIỄN 111. Khái niệm, đặc điểm nghệ thuật biéu dién 1. Khái wigm ughệ thuật bien điễm Nghệ thuật biểu diễn (NTBD) và biểu dién nghệ thuật (BDNT) là hai khái niệm cùng tôn tại song hành, có mới quan hệ biện chúng nhung giữa chúng có sự khác biệt nhật định dưới góc độ lý luận Do đó, cần làm 16 sự khác biệt giữa hai thuật ngất này dé thông qua đó làm tiên dé xác định nội ham của nghệ thuật biểu điển. Nghệ thuật biểu dién có lịch sử bình thành và phát triển rất lâu đời, cũng là hoạt động sáng tao của con người từ thuở sơ khai cho dén ngày nay N ghê thuật biểu diễn là mot trong những lĩnh vực quan trong có tính đặc thù của văn hoá.
Sản phẩm của NTBD trước hết liên quan đến sáng tạo giá trị văn hoá nghệ thuật- giá trị ma không một hình thái ý thức nao có thé thay thé được trong việc tác động đền tư tưởng tinh cam, lý tưởng, thêm mỹ, góp phân phát triển hoàn thiện nlhên cách con người. Tính đặc thù của nghệ thuật biểu diễn xét ở góc độ khái quát nhất là hình thái ý thức xã hội đặc thù, phản ánh hiện thực bằng hình tượng sinh động cụ thể, nhim thoä man nhu cầu thâm mỹ của con người. Nghệ thuật là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người, gin liền với tâm tu, tinh cảm của con người Bằng những phương tiên biểu hiên đặc thủ riêng của mình, nghệ thuật phan ánh thé giới và cải tạo thê giới. Nghệ thuật giúp con người nhận thức những giá trị chân, thiện, mỹ, là phương tiên tác động vào thê giới nội tâm của con người, làm cho con người gắn bó với công đẳng “Hon bắt cứ lĩnh vực nào trong quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, nghệ thuật mang ý ngiữa xã hội sâu sắc.
Nó không chi phan ảnh các đều kiên sinh hoạt thông thường của xã hồi mà còn thé hiện chiêu sâu của tâm ý"L, Nên văn hoá nghệ thuật của toàn nhân loại đã trải qua năm thời kỳ phát triển kỹ thuật sân khẩu nghệ thuật biểu diễn: Thời ky the nhất, lả nghệ thuật dién xưởng dân gian folklore, có không gian sân khâu điễn ké hon đông mang ý thức tâm linh. Thời ky thứ hai, phát trién sân khâu biểu diễn chuyên nghiệp kịch nói cô điền Châu ` Đố Huy (2000), Mi học - Khoa học về các quan hệ thẳm mỹ, Nxb Khoa học Xã hỏi, Hà Nội. 7 Âu, đã ra đời khái niệm thuật ngữ “N ghệ thuật biểu diễn” vào năm 17112 Cho đến nay, thuật ngữ nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam cũng như trên thé giới chưa được khải niém một cách chuẩn mực. Theo một số từ điển như Oxford Advandced Leamer's Dictionary, Cambridge Dictionary, “nghệ thuật biểu diễn" - “performing art” được định nghia những loai hình nghệ thuật như âm nhac, múa, sân khâu (kich) được biéu dién trước khán giả Trong tiếng Italy, “nghệ thuật biéu diễn” - “arti dello spettacolo” có nghĩa là sự trình diễn của nghệ sỹ trong mét chương trình, sự kiện có tinh chất nghé thuật trước công chúng nhễm khơi gợi những cảm xúc Trong tiéng Tây Ban Nha, nghệ thuật biểu diễn" - “arte escenco” có ng†ữa là nghé thuật trên sân khâu hoặc có bồi cảnh dién xuất.
Như vậy, theo mỗi cách tiếp cận của phương tây, nghệ thuật biểu diễn kha tương dong với nghệ thuật sân khâu. Một số giáo trình văn hoá - nghệ thuật hiện nay định nghia sân khâu là loại bình nghệ thuật tổng hợp có lịch sử lâu đời. Bằng sư kết hợp nhiều loai hinh nghệ thuật khác nhu văn học, hội hoa, kiên trúc, âm nhac, mua và hiện nay còn bao gom cả điện ảnh Sân khâu tạo nên các hinh tượng nghệ thuật sóng động đố: với công clning nghệ thuật. Ngôn ngữ đắc trưng của sân khâu là hành động (hành động hình thé, hành đông tâm lý, hành động ngôn ngữ), thông qua én xuất, biểu đạt cảm xúc của diễn viên Hành động sân khâu là hành đông kich, hành động mang tính xung đột, nhằm biểu luận tu tưởng của kịch mang tính nhất quán chứ không phải bat kỹ hành động có tính chất ngau nhién nào, Tại Việt Nam, “nghệ thuật biểu diễn” cũng đã được tiếp cân gan gióng như trên thé giới, những người được coi là nghệ sỹ khi luyện được yêu tô “thenh- sắc - thục - tinh- khí - thân”.
Tuy nhiên, do hệ thống giáo duc - dao tạo cũng nhu các quy đính pháp luật, cho đến nay, nghệ thuật biểu dién ở Việt Nam chưa có một khái niém cụ thể, xác đáng và đang ngày một thay đôi do sự tác đông của kinh tế thi trường và sự phát triển của công nghiệp giải trí Theo cách tiếp cận hệ thông giáo dục - đào tạo, nghệ thuật biểu diễn được dao tao theo mã ngành 2102 - “Nghệ thuật trình điển: Là nhóm ngành nghề đào tao tap 3L Ngọc Cin (2013), Kháiniệm của Chi nghĩa hậu hiền dai - nguồn literate criticism online 8 trưng vào ly thuyết sáng tác đạo dién và biểu điễn âm nhạc, kịch, điện ảnh múa. xiếc” và ma ngành 2103 - “Nghệ thuật nghe nhìn: Là nhóm ngành nghề đào tạo tập trưng vào kỹ thuật công nghệ chip ảnh, sản xuất phim, sdn xuất âm nhạc, sản xuất các chương trình phát thanh và truyén hình" 3. Tiếp cên theo Nghị định số 144/2020/NĐ-CP, nghệ thuật biểu diễn được hiểu ở các góc độ: (1) “Hoạt động nghệ thuật biéu điễn là hoạt động tạo ra những sản phẩm nghệ thuật được đình hình dưới dạng văn ban, âm thanh, hình ảnh dé truyền đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật tới công chứng đưới các hình thức biểu diễn nghệ thuật: luau hành bản ghi âm, ghi hình có nội cing biểu điễn nghệ thuật” (2) “Biểu diễn nghệ thuật là hoạt động thé hiện các loại hình nghệ thuật biểu dién, thi người đẹp, người mẫu hoặc kết hợp giữa loại hình nghệ thuật biểu điển với trình điển thời trang các hoạt động văn hoá, thé thao”. (3) “Loại hình nghệ thuật biểu dién bao gồm sẩn khẩu âm nhạc, múa và các hình thức dién xướng đân gian từ truyền thông đến liên đại của Liệt Nam và thé giới”.
(4) “Lint hành bản ghi âm, ghi hình có nội chang biểu dién nghệ thuật là diva sản phẩm âm thanh, hinh ảnh có nội đứng biéu diễn nghệ thuật được định dạng trên băng dia, phần mém và vật liêu khác dé lanh doanh, khai thác, sử ching trong xã hoi. Trong quá trình sửa đổi, bỗ sung, thay thé quy đính pháp luật thời gian vừa qua, nhiều y kiên của chuyên gia, nha nghiên cứu đã phản ứng với cách tiép cân của pháp luật trong suốt hai thập niên va dé nghị có những thay đổi plù hop. Trên cơ sở các ý kiên góp ý, Bộ VHTTDL đã xây dụng quy định giải thích từ ngữ tương đối hoàn chỉnh dé tiếp cân khái niém “nghệ thuật biểu dién” và điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thé, theo đó có thé đưa ra định nghĩa như sau: “Hoạt động nghệ thuật biểu điễn là quá trình sáng tạo bao gồm công tác nghiên cứu, sưu tẩm, đào tạo, sáng tác, thiết kế, đàn dung dao dién, biên dao và các hoạt động sáng tao khác nhằm tao ra những sản phẩm âm thanh, hình ảnh đưới các ` Quyết duh số 01/2017/QĐ-TTg ngày 17 thing 01 năm 2017 của Thủ trống Chính phi bản hinh Danh naục giáo đục „dio tạo của hệ thống giáo ducquốc din. 9 hình thức và định dang khác nhan dé truyén đạt dén công ching” Tuy nhiên, chúng ta van có thé tiép cân khai niém nghệ thuật biéu điển thông qua những đặc tinh von có của nó đỏ là: “Nghệ thuật biểu dién là sự tông hòa của loại hình nghệ thuật không gian và nghệ thuật thời giam.
được sáng tao bởi nghệ sỹ và tryễn đạt đến công ching bằng những hình tương thống nhất giữa nôi dưng và 1. Đặc điểm ughệ thuật bien điễm Cùng với sự phát triển của văn hoá xã hội có rất nhiéu loại hình. nghệ thuật tiểu dién ra doi, tên tại, phát triển hay bị triệt tiêu. Mỗi loại hình nghệ thuật biểu diễn đều có những giá trị văn hoá, nghệ thuật nhat đính với một nhóm đối tượng cụ thé trong x4 hội.
Tuy nhiên, nghệ thuật biểu dién có một số đặc điểm chung sau đây: Một là. nghệ thuật biểu điễn là tổng hòa của loại hình nghé thuật không gian và nghệ thuật thời gian Tinh không gian của nghệ thuật biểu diễn là yêu tô tính, diễn dat su vật cụ thé và được cảm nhận bang thi giác. Thuộc tinh này tao hiệu ung bồi cảnh, giúp người xem định hình được hình tượng nghệ thuật, trải nghiệm tác phẩm thông qua hình thực vật thé. Hơn thé nữa, hình tương nghệ thuật được xây đựng theo ân tượng thị giác, tao ra sự hap dan của cảm thụ thị giác để tác động, phản ánh dén người xem Co thé ví du như tác phẩm chèo được biểu dién đưới mái đính cô, với những kiến trúc độc đáo của Đông bằng Bắc bô sẽ tao rất nhiêu liệu ung nghệ thuật hơn là trên sân khâu của nhà hát Tính thời gian của nghệ thuật biểu diễn là sự dién đạt, biến đổi, phát triển nội dung theo quả trinh thông qua tâm trang, cảm xúc của nhân vật được hoá thân bởi người nghệ sỹ.
Hình tương nghệ thuật của một tác phẩm nghệ thuật biểu diễn luôn. có câu trúc đặc trưng theo những quy luật thời gian và nguyên tắc phát triển, tinh kích Nghệ sỹ biểu điển tạo ra những gia: đoạn của cảm xúc, trên nên không gian tạo cảm nhận về thời gien Đó là lỗi xây dụng hình tượng kiểu nhắc lại (dang điệp Kinio), trung lập theo bình xoáy dc va ding ngôn ngữ đa thanh: Chính hai yêu tô không gian và thời gian là chất liêu đề định hình tác phẩm nghệ thuật biểu đến Một tác phẩm giảu cảm xúc hay phản cảm không chi phụ thuộc vào lỗi dién của nghệ sỹ mà còn phụ thuộc rất nhiều vào bố: cảnh, không gian biểu diễn. nghệ thuật biéu điễn có tinh thông nhất giữa nội dung và hình thie Nghệ thuật biểu diễn khi được đính bình thành một tác phẩm luôn có nộ: dung của một hình thức nhật đính, và ngược lại hình thức đó bao giờ cũng nhằm thể hiện một nội dung tư tưởng.