Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Quản lý Theo Paul Hersey và KenBlanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức [39, tr. Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cũng cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; và “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [13, tr. Như vậy, “Quản lý” có thể hiểu là một quá trình xây dựng các nguyên tắc hoạt động, có kiểm tra, giám sát để một tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.2 Văn hóa Trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của tác giả Đào Duy Anh đề cập “Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thẩy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi của văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt.”, ông nhấn mạnh tính chất của văn hóa “Văn hóa tức là sinh hoạt thì không kể là dân tộc, văn minh hay man dã” [1, tr. Theo Hồ Chí Minh khái niệm văn hóa được hiểu như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, 15 những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [2, tr. Như vậy, văn hóa là sự bao hàm tất cả những sự vật sự việc diễn ra trong cuộc sống của con người, là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người.
Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.3 Lễ hội Trong công trình nghiên cứu “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” tác giả Dương Văn Sáu cho cho rằng “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người với xã hội” [63, tr. Vì vậy, lễ hội đáp ứng nhu cầu tinh thần, nhu cầu giải trí, thể hiện sức mạnh, tài năng, tái hiện cuộc sống của con người. Bởi vậy, khi nói đến lễ hội có nhiều tác giả và các công trình nghiên cứu đưa ra những quan điểm, định nghĩa về lễ hội.4 Truyền thống Có nhiều khái niệm về truyền thống, chúng tôi sẽ liệt kê một số khái niệm phù hợp với đề tài như: Tác giả Trần Hoàng Hảo cho rằng “Là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp 16 và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài, truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục, tập quán và lối sống… Ở đây truyền thống tác động đến mọi lĩnh vực của con người ở trong đời sống của con người trong xã hội” [31, tr. Tác giả Mai Thị Quý cho rằng: “Truyền thống là một khái niệm chỉ phức hợp những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí.
của một cộng đồng người được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, và được truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác” [60, tr. Nếu tiếp cận khái niệm truyền thống theo giá trị văn hóa thì tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng. Truyền thống có hai loại, một là truyền thống văn hóa chứa đựng các giá trị hai là truyền thống phi văn hóa, chứa đựng các phi giá trị” [73,tr.135] Vậy trong đề tài này, chúng ta có thể hiểu truyền thống là một dạng hệ thống được hình thành từ thói quen sinh hoạt của con người, truyền thống là cái còn lại sau nhiều tác động bởi sự thay đổi của yếu tố bên ngoài.5 Quản lý văn hóa Theo sách “Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Sơn Cường cho rằng “Quản lý văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [17, tr. Theo tác giả Vũ Thị Phương Hậu cho rằng “Lập kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa: Lập kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa trong từng giai đoạn để thực hiện đường lối và định hướng phát triển của Đảng đối với văn hóa.
Thể chế văn hóa bao gồm hai loại hệ thống chuẩn mực: Chuẩn mực luật pháp và chuẩn mực phong tục tập quán” [33, tr.15] 17 Dựa trên hai quan điểm đó chúng ta có thể hiểu, quản lý văn hóa là sự tác động bằng nhiều phương pháp của chủ thể quản lý bao gồm các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý đối với khách thể là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa nhằm đạt được mục tiêu mong muốn bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân. Khác với khái niệm “Quản lý” nói chung, “Quản lý văn hóa” đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể và thống nhất vì tính đặc thù của văn hóa. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tạm hiểu quản lý văn hóa là các hoạt động của chủ thể quản lý bằng cách đưa ra những quy định, nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động văn hóa có chỉ đạo, giám sát để đặt mục tiêu đề ra. Con người vốn là chủ thể sáng tạo văn hóa, là đối tượng hưởng thụ văn hóa và hoạt động văn hóa là một hoạt động phức tạp diễn ra trên bình diện rộng, trong tất cả các hoạt động xã hội.
Vì thế, quản lý nhà nước về văn hóa thực chất là quản lý con người tham gia các hoạt động văn hóa để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đặt ra cho quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa.6 Lễ hội truyền thống Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về “lễ hội truyền thống”. Tác giả Nguyễn Duy Quý – nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam từng phát biểu trong Hội thảo Khoa học “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại)” (tổ chức vào tháng 3 năm 1993): “Lễ hội truyền thống là một xã sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường…” [83, tr. Trong khi đó, Nguyễn Duy Hinh lại cho rằng: “Lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là một cách ứng xử thông minh, khôn ngoan của con người đối với những sức mạnh vô hình hay hữu hình mà con người không thể lý giải được” [83,tr. Ngoài ra, Ngô Đức Thịnh đã đưa ra một quan điểm mới về khái niệm lễ hội truyền thống.
Theo ông, “Lễ hội là một hoạt động tín ngưỡng dân gian tổng 18 thể: trong lễ có hội, trong hội có lễ. Điều này đã khác với tư duy trước đó thường phân biệt/tách biệt lễ hội thành hai yếu tố: lễ và hội. Tuy nhiên, trong thực tế, rất nhiều nghi thức lễ đã được biểu hiện dưới dạng hội (trò chơi/trò diễn) và ngược lại, rất nhiều trò chơi/trò diễn gắn liền với ý nghĩa lễ nghi, thiêng liêng” [76,tr. Quan điểm này của Ngô Đức Thịnh, theo chúng tôi là đúng đắn phù hợp trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và diễn giải các vấn đề của công trình nghiên cứu này.
Đây là một cái nhìn có tính chất tổng thể, không chỉ đặt đối tượng nghiên cứu trong chính nó, mà còn đặt nó trong mối quan hệ, tương tác qua lại với các mặt của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Lễ hội là sự tổng hợp cái linh thiêng và cái trần thế, nhằm thể hiện lòng biết ơn và bày tỏ nguyện vọng cùng sự cầu mong của mình đối với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên trong vũ trụ; phân bố theo không gian; có khuynh hướng thiên về tinh thần; mang đặc tính mở (lôi cuốn mọi người tìm đến); mục đích nhằm duy trì quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong làng xã” [71,tr.269] hay Huỳnh Quốc Thắng xem lễ hội cổ truyền, một loại hình sinh hoạt cộng đồng đã và đang chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam không chỉ bởi vì nơi đây đã có số lượng đông đảo người tham gia mà còn là vì nơi đó đang bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc có thể xây dựng thành những trọng điểm du lịch (main destination) của các địa phương, lẫn quốc gia” [69,tr. Như vậy, lễ hội truyền thống có thể xem là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian, được diễn ra theo định kỳ, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Quản lý lễ hội vì thế là một nội dung quan trọng của quản lý văn hóa.