chương I của “Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh” (Ban hành kèm theo Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ngày 06 tháng 02 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin) bao gồm các nguyên tắc sau: - Chỉ tiến hành bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích trong trường hợp cần thiết và phải lập thành dự án. Dự án và thiết kế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích hoặc 19 báo cáo tu sửa cấp thiết di tích phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. - Bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững của di tích. - Ưu tiên cho các hoạt động bảo quản, gia cố di tích trước khi áp dụng những biện pháp kỹ thuật tu bổ và phục hồi khác.
- Việc thay thế kỹ thuật hay chất liệu cũ bằng kỹ thuật hay chất liệu mới phải được thí nghiệm trước để bảo đảm kết quả chính xác khi áp dụng vào di tích. - Chỉ thay thế một bộ phận cũ bằng một bộ phận mới của di tích khi có đủ những chứng cứ khoa học chuẩn xác và phải có sự phân biệt rõ ràng giữa bộ phận mới thay thế với những bộ phận gốc. - Bảo đảm an toàn cho bản thân công trình và khách tham quan. Như vậy, để hoạt động bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa có hiệu quả, giá trị chất lượng di tích lịch sử văn hóa được nâng cao thì việc tuân thủ các nguyên tắc, các định hướng chung, định hướng cụ thể cho từng di tích trong vấn đề bảo quản, tu bổ, phục hồi là rất cần thiết.
Trong nguyên tắc bảo tồn và phát huy di tích phải bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững của di tích. Yếu tố nguyên gốc và yếu tố chân xác lịch sử sẽ quyết định các mặt giá trị của di tích, là tiêu chí cơ bản cho một đối tượng được công nhận là di tích đích thực, ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế. Tính nguyên gốc của di tích thể hiện ở các mặt: Nguyên gốc về kiểu dáng, phong cách, nguyên gốc về vật liệu xây dựng, về kỹ thuật, độ tinh sảo trong chế tác hoặc thi công, về chức năng thực dụng, về địa điểm xây dựng cũng như cảnh quan môi trường [3, tr. Tính xác thực của di tích nó thể hiện ở hình thức và thiết kế, vật liệu và chất liệu, cách sử dụng và chức năng, truyền thống và kỹ thuật, mỹ thuật vị trí và nơi dựng lập, tinh thần và cách thể hiện (tâm linh và tình cảm), những yếu tố bên trong và bên ngoài của di tích [37, tr.
Trong các yếu tố đó, yếu tố chức năng, yếu tố tinh thần và cách thể hiện (tâm linh và tình cảm) đã góp phần quyết định giá trị của di tích. Yếu tố tâm linh là cái 20 thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng ấy được đọng lại ở những hình ảnh, biểu tượng, ý niệm [14, tr. Cho nên trong công tác bảo tồn và phát huy di tích ngoài việc quan tâm đến sự nguyên gốc về kiểu dáng, phong cách, vật liệu, kỹ thuật chế tác và thi công, về địa điểm cảnh quan môi trường thì việc tìm hiểu chức năng (giá trị sử dụng), biểu tượng (tâm linh) có đóng góp vào việc xác định giá trị chân xác của di tích.
Tổng quan địa bàn nghiên cứu 1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội thị xã An Nhơn 1. Đặc điểm tự nhiên * Vị trí địa lý An Nhơn là một thị xã đồng bằng, nằm về phía Nam của tỉnh Bình Định và phía Bắc của thành phố Quy Nhơn, có toạ độ địa lý vào khoảng 13042 đến 13049 vĩ độ Bắc và 109000 đến 109011 kinh độ Đông, có tổng diện tích tự nhiên 24. Ranh giới hành chính thị xã được xác định như sau: Phía Đông giáp huyện Tuy Phước, phía Tây giáp huyện Tây Sơn và huyện Vân Canh, phía Nam giáp huyện Tuy Phước và huyện Vân Canh, phía Bắc giáp huyện Phù Cát.
Trung tâm thị xã An Nhơn cách Quy Nhơn gần 20km, cách trung tâm thị xã về phía Bắc 6km có sân bay Phù Cát, phía Nam 15km có ga Diêu Trì. Giao thông có một tuyến tỉnh lộ 636 đi qua thị xã và có các tuyến đường chính là quốc lộ 1A, quốc lộ 19, quốc lộ 19B và đường sắt Bắc Nam đi qua, nối liền với cảng biển Quy Nhơn và vùng duyên hải miền Trung, Tây Nguyên trong hành lang kinh tế Đông – Tây [31]. * Địa hình Địa hình của thị xã An Nhơn tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Tây sang Đông, hướng nghiêng ra biển, độ cao trung bình khoảng 20 mét so với mực nước biển, gồm hai dạng chính: Địa hình vùng đồng bằng có diện tích 17.067 ha, Địa hình vùng đồi núi có diện tích 7. 21 * Đất đai Đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn gồm 5 nhóm với các loại đất chính sau: đất cát, đất glây, đất xám, đất tầng mỏng.
Đặc biệt là nhóm đất phù sa có diện tích khoảng 7.641 ha với hai loại đất chính là đất phù sa chua thuận lợi cho phát triển hoa màu, các cây công nghiệp ngắn ngày và đất phù sa đốm gỉ hiện chủ yếu là đất trồng lúa. Nhìn chung, thị xã An Nhơn có lớp phủ thổ nhưỡng khá đa dạng đã và đang được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp (khoảng 62% diện tích tự nhiên) [31]. * Hệ thống sông ngòi Với hệ thống sông ngòi, kênh rạch phân bố đều khắp trên địa bàn thị xã nên nguồn nước mặt và nước ngầm ở thị xã rất dồi dào, phục vụ nhu cầu cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân như sông Côn, sông Tân An, sông Gò Chàm, sông Đập Đá, sông Quai Vạt, sông Cầu Dài, Hồ Núi Một. Với hệ thống hạ lưu sông Côn chia thành hai nhánh Nam phái và Bắc phái, tiếp với sông An Tượng chia thành năm nhánh phân bố đều trên địa bàn thị xã, cùng với Hồ Núi Một và mạng lưới kênh mương nhân tạo đã tạo nên cảnh quan đa dạng, thuận lợi cho quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị [31].
* Khí hậu Về khí hậu, An Nhơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, được chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng của gió Tây và gió Tây Nam. Từ tháng 5 đến tháng 8 có gió Nam hay còn gọi là gió Lào khô, nóng. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông - Bắc.
Hằng năm, thường có mưa nhiều vào tháng 10, tháng 11, chiếm 60% lượng mưa cả năm. Tổng số ngày mưa trong năm là 130 ngày, độ ẩm tương đối trung bình 81%. Số giờ nắng trung bình trong năm là 2500 giờ. Số giờ nắng trung bình ngày từ 6-8 giờ.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 250C [51]. * Tài nguyên khoáng sản Về tài nguyên khoáng sản, theo khảo sát đánh giá sơ bộ tài nguyên khoáng sản của An Nhơn không đa dạng về chủng loại, nhưng có một số loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn, có giá trị trong ngành công nghiệp. Cụ thể đá xây dựng có trữ 22 lượng ước tính hàng trăm triệu m3, bao gồm các loại đá làm vật liệu xây dựng thông thường và vật liệu xây dựng cao cấp. Riêng các loại đá granite như granosinite màu đỏ, biotite hạt thể màu vàng là những loại được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng.
Ngoài ra còn có một số loại khoáng sản khác tuy nhiên trữ lượng không lớn và chưa có những đánh giá đầy đủ về trữ lượng cũng như chất lượng. Tuy nhiên, cũng tồn tại một số loại có tính chất vật liệu như sét, gạch ngói và cát sông [31]. Đặc điểm xã hội và dân cư Vào thế kỷ XV, đất nước Chămpa đầy biến động bởi sự nội biến bên trong và xung đột bên ngoài. Vua Lê Thánh Tông đã có thời cơ để chấm dứt nạn tranh chấp này vào năm 1471.
Từ đó, đất Bình Định trở thành một bộ phận của nước Đại Việt. Nhà Lê đã cho lập Thừa tuyên Quảng Nam, tạo cho phủ Quy Nhơn thời chúa Nguyễn một nội lực kinh tế phát triển, một thế đứng vững chắc để mở nước về phía Nam. Sau đó vua Lê Thánh Tông đã tổ chức cuộc chuyển cư lớn vào vùng đất mới. Làng xã Bình Định mới bắt đầu hình thành.
Đầu tiên là những gia đình, bà con thân thích của binh sĩ theo bước hành quân chiếm đóng của quân đội nhà Lê. Tiếp đến là những tội nhân bị lưu đày, theo sắc chỉ của vua Lê Thánh Tông, một bộ phận được đưa vào Bình Định để khai phá vùng đất mới. Những năm sau, dưới thời vua Lê Thánh Tông, người Việt chuyển vào Bình Định ngày càng nhiều, người theo kế hoạch của triều đình, kẻ thì chuyển cư tự do. Dưới thời các chúa Nguyễn, với một tầm nhìn chiến lược và có chính sách thông thoáng trong việc thu nạp hiền tài (trường hợp của Lương Văn Chánh, Đào Duy Từ.) cùng với việc khuyến nông, các chúa Nguyễn đã có chính sách tích cực trong việc di dân, khai phá, lập làng.
Vào thế kỷ XVII, nhà Lê suy tàn, nhà Mạc cướp ngôi, chiến tranh Nam - Bắc triều nổ ra, Nguyễn Hoàng nhân cơ hội đưa người vào Thuận Quảng xây dựng cơ đồ, vùng đồng bằng thuộc phủ Hoài Nhơn và An Nhơn được khai thác mạnh mẽ 23 (Phủ Hoài Nhơn tức Bình Định ngày nay gồm ba huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Thị xã An Nhơn ngày nay thuộc huyện Tuy Viễn). Thế kỷ XVII, ngoài những xóm làng đông đúc của người Việt, còn có những người nước ngoài vào lánh nạn chính trị, buôn bán làm ăn mà đông đảo nhất là người Hoa. Phần lớn những người Hoa đến Bình Định là người Quảng Đông vì phong trào “phản Thanh phục Minh” bị thất bại, vì nghèo khổ phải theo thuyền vượt biển tới Bình Định góp phần xây dựng các tụ điểm kinh tế mới, biến một số làng nông nghiệp ven sông nơi giao thông thủy bộ thuận tiện thành những làng nghề, phố chợ kinh tế hàng hóa mà ta gọi là thị tứ.
Sang thế kỷ XVIII, vào những thập kỷ 60-70, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài rối ren, An Nhơn là nơi đón nhận những kẻ muốn “chọc trời khuấy nước” nhưng chưa có đất dung thân, những anh hùng mạt lộ, những kẻ sĩ cùng đường tới nhập cư ở các thôn làng. Họ đã sát cánh cùng ba anh em Tây Sơn và nhân dân các dân tộc Bình Định làm nên cuộc cách mạng nông dân Tây Sơn.