Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TONG QUAN VE LE HỘI TRUYEN THÓNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THƯỜNG TÍN, TP. Khái niệm di sản văn hóa và lễ hội truyền thống s* Di sản văn hóa Năm 1972, tô chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp Quốc UNESCO đã đưa ra Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới, Luật Di sản văn hóa năm 2001 cũng đã nêu “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thé va di sản văn hóa vat thé, là những sản phẩm tinh than, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ nay qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. DSVH vật thê là sản phẩm vật chất có giá tri lich sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cô vật, bảo vật quốc gia” [30, tr. Năm 2003, t6 chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp Quốc UNESCO cũng đã đưa ra công ước về việc bảo vệ DSVH phi vật thé dé cộng đồng thế giới có cách nhìn nhận tổng thé hơn về DSVH phi vật thể.
“DSVH phi vật thé được hiéu là các tập quán, các hình thức biểu hiện, biểu dat, tri thức, kỹ năng — cũng như những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ. Được chuyên giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, không ngừng tái tạo dé thích nghi với môi trường, với mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” [49, tr. Tại Luật số 32/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 có nêu “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh than gan với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thé và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thê hiện bản sắc của cộng đông, không 14 ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghé, trình diễn và các hình thức khác” [31, tr. DSVH phi vật thé được biểu hiện ở những hình thức như: “Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu; nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ hội; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống” [31, tr.
Qua các khái niệm về di sản văn hóa có thê thấy vai trò quan trọng của DSVH đối với mỗi cộng đồng, dân tộc, là nguồn tài sản vô cùng quý giá của quốc gia. DSVH có giá trị to lớn trong giáo dục, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp, dé cao tinh thần yêu nước, yêu thiên nhiên và qua đó góp phần hình thành nhân cách con người, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, văn minh. Hệ thống di sản văn hóa cũng mang trong mình những đữ liệu thông tin cho thấy lịch sử phát triển của dân tộc, có giá trị lớn trong đấu tranh, bảo vệ chủ quyên, toàn vẹn lãnh thé cũng như sự trường tồn của dân tộc. Di sản văn hóa là nguồn lực góp phan phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
s* Lễ hội Khái niệm về lễ hội Lễ hội là hoạt động văn hóa dân gian của mỗi cộng đồng dân cư sinh song. Mỗi lễ hội mang một sắc thái đặc điểm khác nhau do nét đặc trưng văn hóa từng cộng đồng quy định. Cụm từ “Lễ hội” được ghép bởi 2 từ mang nghĩa độc lập, “Lễ” là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, “Hội” là các hoạt động sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Theo cố GS.
Trần Quốc Vượng “Lễ hội gồm hai phan vừa tách rời vừa không tách rời nhau: Lễ hội (nghi lễ cúng Thần, Thánh, Phật, Mẫu.) và phần hội (tụ hội của dân một làng hay liên làng (vùng). Trên thực tế và về lý thuyết lễ - hội xoắn xuýt hữu cơ vào nhau, không thé tách rời” [53, tr. 15 Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng “Lễ hội là một hiện tượng tổng thé, không phải là thực thê chia đôi (phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghỉ lễ tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lich sử hay một vị thần linh nghề nghiệp nào đó), rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa, phát sinh để tạo nên một tổng thê lễ hội, nên trong lễ hội phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp” [37, tr. Tác giả Nguyễn Chí Bên định nghĩa “Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, ra đời và phát triển trong xã hội loài người.
Ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với làng xã như một thành tố không thê thiếu vắng trong đời sống cộng đồng” [6, tr. Như vậy, về cơ bản các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách diễn đạt khau nhưng đều khăng định lễ hội là một hoạt động văn hóa được tô chức mang tính cộng đồng gồm phần lễ và phần hội và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Phân loại lễ hội Trước đây lễ hội được phân loại theo dạng lễ hội bao gồm: Lễ hội Dân gian, lễ hội tôn giáo, lễ hội lich sử cách mạng, lễ hội văn hóa — du lịch, lễ hội văn hóa — thê thao, lễ hội được du nhập từ nước ngoài. Theo thống kê của Cục Văn hóa cơ sở Việt Nam năm 2008, cả nước Việt Nam có khoảng 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 41 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%) [10, tr.
Theo thống kê mới nhất tại Đề án “Số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam” giai đoạn 2021 — 2025 của Bộ Văn hóa, Thẻ thao và Du lịch thống kê đến tháng 12/2020 có khoảng 8.598 lễ hội, trong đó: lễ hội truyền thống là 8.274 lễ 16 hội, lễ hội văn hóa là 297 lễ hội, lễ hội ngành nghề là 18 lễ hội, lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài là 9 lễ hội [1 1, tr. Hiện nay lễ hội được phân loại dựa trên ý nghĩa và chức năng của chính lễ hội. Theo thông tư số 15/2015/TT -BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2015 và Nghị định số 110/2018/ND — CP ngày 29 thang 8 năm 2018, lễ hội dan gian hay lễ hội truyền thống được hiểu gần như đồng nhất và các lễ hội được phân loại cụ thể: 1. Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lich sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghĩ lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân.
Lễ hội văn hóa là hoạt động giới thiệu, quảng bá giá trị văn hóa, thể thao tiêu biểu, đặc sắc, tiềm năng du lịch về đất nước con người Việt Nam. Lễ hội ngành nghề là hoạt động quảng bá về đặc trưng, thế mạnh của các ngành nghề, tôn vinh các tổ chức, nghệ nhân tiêu biéu có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển ngành nghề. Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài như những hoạt động giới thiệu văn hóa, kinh tế, xã hội của nước ngoài với công chúng Việt Nam. s* Lễ hội truyền thong Khái niệm Truyền thống là khái niệm chỉ những sự vật, sự việc hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được lưu truyền qua thời gian, có tính lịch sử.
Đối với công tác quản lý, có thể hiểu lễ hội dân gian đồng nhất với khái niệm lễ hội truyền thống vì lễ hội truyền thống hay lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian đều được hiểu theo quan điểm là yếu tố đời sống văn hóa, mang tính lịch sử, có sự kế thừa và lưu truyền. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh “Lễ hội truyền thống còn được hiểu là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình thái văn hóa lịch sử, tương ứng với những mô hình xã hội tổ chức khác nhau, hay hiểu một cách đơn giản nhất lễ hội truyền thống là lễ hội của các xã hội truyền thống [39, tr. 17 Theo Nghị định 110/2018/NĐ-CP “Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tô chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân” [16, tr. Như vậy có thê thấy rằng lễ hội truyền thống là một loại hình di sản văn hóa phi vật thé, là hoạt động văn hóa mang những giá trị tốt đẹp của một cộng đồng, một nhóm người, có tính lịch sử, tính kế thừa, lưu truyền nhằm bảo tồn, phát huy theo hướng phát triển trong đời sống xã hội.
Do là sáng tạo và lưu truyền văn hóa theo phương thức dân gian, được hình thành trong diễn trình lịch sử, được truyền lại trong các cộng đồng như những phong tục tập quán, có thể còn nguyên bản hay được phục dựng. Lễ hội truyền thống mang trong mình tinh chất thiêng liêng, tính cố kết cộng đồng, khuôn mau và được diễn ra theo chu kỳ. Đặc trưng cơ bản của lễ hội truyền thống là gan với đời sống tâm linh tôn giáo tín ngưỡng, sự kiện và nhân vật lịch sử, mang tính thiêng, ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng. Phân loại lễ hội truyền thống Theo loại hình (đối tượng thờ cúng) gom: lễ hội dan gian (nhân thần, nhiên thần, Tổ nghé.), lễ hội tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội lịch sử cách mạng tại các di tích lịch sử - văn hóa.
Theo phân cấp quản lý gom: lễ hội cấp quốc gia, cấp tinh, cấp huyện, cấp xã. Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thong Quan lý Các Mác quan niệm: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động.