Tổng quan nghiên cứu
Lễ hội truyền thống là một bộ phận cốt lõi cấu thành di sản văn hóa phi vật thể, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cố kết cộng đồng và bảo lưu các giá trị nhân văn dân tộc. Tại vùng trung du Bắc Bộ, xã Tứ Xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ sở hữu diện tích tự nhiên 815,6 ha cùng quy mô dân số trên 10.000 người, là không gian văn hóa lưu giữ nhiều di sản cổ truyền quý báu. Nổi bật nhất là Lễ hội Trò Trám (còn gọi là lễ hội Linh tinh tình phộc) gắn liền với di tích Miếu Trò và Điếm Trám. Theo khảo cứu của nhà nghiên cứu Toan Ánh về 17 điểm lễ hội phồn thực tiêu biểu ở miền Bắc, Lễ hội Trò Trám được đánh giá là lễ hội mang tính độc bản, đặc sắc nhất của cư dân nông nghiệp lúa nước. Trải qua biến thiên lịch sử và chiến tranh, lễ hội từng bị gián đoạn và chính thức được phục hồi từ năm 1993. Đến năm 2007, Miếu Trò được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh và ngày 21 tháng 11 năm 2016, Lễ hội Trò Trám đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực trạng biến đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội thời kỳ hội nhập, dẫn đến nguy cơ thương mại hóa, biến dạng nghi lễ cổ truyền và áp lực quá tải hạ tầng quản lý. Mục tiêu cụ thể của công trình là khảo sát toàn diện thực trạng quản lý nhà nước và hoạt động tự quản cộng đồng tại Lễ hội Trò Trám trong giai đoạn 2016 - 2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý, hài hòa giữa bảo tồn nguyên gốc và khai thác du lịch bền vững. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao chỉ số quản lý di sản, định hướng kiểm soát 100% các biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, đồng thời tạo tiền đề gia tăng giá trị kinh tế du lịch văn hóa cho địa phương khoảng 20% đến 30% mỗi năm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý văn hóa hiện đại kết hợp với quan điểm cấu trúc - chức năng trong nghiên cứu di sản văn hóa dân gian. Hệ thống lý thuyết tiếp cận theo hai trục chính:
Trục quản lý nhà nước: Căn cứ Điều 54 Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), quản lý nhà nước về lễ hội được xác định qua 8 nội dung trọng tâm, bao gồm xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm, tổ chức bảo vệ, đào tạo nhân lực, huy động nguồn lực và thanh tra xử lý vi phạm. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp các định hướng từ Chỉ thị 41-CT/TW năm 2015 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội, Thông tư 15/2015/TT-BVHTTDL và bộ tiêu chí đánh giá lễ hội theo Quyết định 486/QĐ-BVHTTDL.
Trục cấu trúc di sản văn hóa: Luận văn kế thừa mô hình cấu trúc lễ hội của Giáo sư Nguyễn Chí Bền và Giáo sư Ngô Đức Thịnh, phân tích lễ hội qua 3 thành tố: Nhân vật phụng thờ (Nữ thần Ngô Thị Thanh - bà Đụ Đị), Thiết chế không gian hiện hữu (Miếu Trò, Điếm Trám) và Không gian - thời gian thiêng (Lễ Mật, Rước lúa thần, trò diễn Tứ dân chi nghiệp). Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa gồm: Lễ hội truyền thống, Tín ngưỡng phồn thực (thờ sinh thực khí Nõ - Nường), Cơ chế tự quản cộng đồng và Xã hội hóa hoạt động văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Xã hội học và Bảo tàng học nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu học thuật:
Phương pháp điều tra khảo sát xã hội học: Tác giả triển khai khảo sát với cỡ mẫu gồm 120 phiếu điều tra, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đối với du khách thập phương (chiếm 60% tổng mẫu) và cư dân bản địa tại xã Tứ Xã (chiếm 40% tổng mẫu). Phương pháp này giúp đo lường chính xác mức độ hài lòng về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và nhận thức bảo tồn di sản.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp 15 đối tượng trọng điểm, gồm 5 cán bộ lãnh đạo Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Lâm Thao, Ủy ban nhân dân xã Tứ Xã và 10 nghệ nhân dân gian, đại diện Ban khánh tiết, cụ thủ từ Nguyễn Thành Ngữ và đội trưởng đội trò Chử Đức Bách. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm thu thập tư liệu định tính chuyên sâu về quy trình thực hành nghi lễ và các khó khăn thực tiễn trong công tác điều hành.
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp và điền dã: Thu thập, đối chiếu hệ thống văn bản pháp lý từ Trung ương đến địa phương và ghi chép thực địa trực tiếp trong 2 mùa lễ hội năm 2016 và năm 2017 (tập trung từ ngày 11 đến sáng ngày 12 tháng Giêng âm lịch).
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát thực địa và phân tích số liệu giai đoạn 2016 - 2017 đã ghi nhận các kết quả nổi bật sau:
Thứ nhất, về phân cấp quản lý và bảo tồn nghi lễ cốt lõi: Ủy ban nhân dân xã Tứ Xã đã kiện toàn Ban tổ chức lễ hội do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Trưởng ban theo đúng Công văn số 27/UBND-VHTT của huyện Lâm Thao. Tỷ lệ bảo tồn nghi lễ nguyên gốc đạt trên 90%, bảo vệ trọn vẹn 3 thực hành then chốt: Lễ Mật lúc 0 giờ đêm ngày 11 tháng Giêng với nghi thức giao phối tượng trưng Nõ - Nường qua 3 tiếng hô Linh tinh tình phộc, Lễ rước lúa thần sáng ngày 12 và trò diễn Tứ dân chi nghiệp (Bách nghệ khôi hài) gồm 11 vai diễn mô phỏng các nghề cổ truyền.
Thứ hai, về công tác xã hội hóa và huy động nguồn lực: Nguồn kinh phí tổ chức lễ hội được xã hội hóa đạt tỷ lệ trên 75%, giảm mạnh sự phụ thuộc vào ngân sách công theo đúng tinh thần Công điện số 229/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Người dân địa phương và các nhà hảo tâm đóng góp hơn 100 triệu đồng mỗi mùa hội để tu sửa Điếm Trám, mua sắm đạo cụ biểu diễn và phục dựng trang phục tế lễ.
Thứ ba, về áp lực gia tăng lượng khách và nguy cơ quá tải: Từ năm 2010 đến năm 2017, lượng du khách đổ về Miếu Trò tăng từ khoảng 3.000 lượt lên hơn 15.000 lượt vào đêm Lễ Mật (tăng gấp 5 lần). Sự bùng nổ này tạo sức ép lớn lên không gian di tích vốn chỉ rộng vài trăm mét vuông, làm phát sinh lượng rác thải tăng khoảng 300% trong vòng 24 giờ diễn ra lễ hội.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên phản ánh mâu thuẫn điển hình giữa việc bảo tồn không gian thiêng mang tính khép kín của tín ngưỡng phồn thực với nhu cầu giải trí, hiếu kỳ của đám đông hiện đại. Việc hàng ngàn người chen lấn trong khuôn viên Miếu Trò vào giờ Tý khiến tính chất trang nghiêm của Lễ Mật bị suy giảm, đòi hỏi lực lượng công an xã phải huy động 100% quân số phối hợp cùng lực lượng an ninh huyện Lâm Thao để thiết lập các vòng bảo vệ.
Về mặt dữ liệu, kết quả đánh giá 7 nhóm tiêu chí theo Quyết định 486/QĐ-BVHTTDL có thể được mô hình hóa qua bảng ma trận chấm điểm quản lý và biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tốc độ tăng trưởng du khách và khả năng đáp ứng của hạ tầng dịch vụ bãi đỗ xe, nhà vệ sinh đạt chuẩn. So với các lễ hội truyền thống khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Lễ hội Trò Trám có ưu thế vượt trội về tính độc đáo của diễn xướng dân gian, nhưng lại tồn tại hạn chế về quản lý tiền công đức và hiện tượng rải tiền lẻ tùy tiện, cần có cơ chế giám sát minh bạch hơn từ phía tổ chức tự quản cộng đồng.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng quản lý Lễ hội Trò Trám:
-
Hoàn thiện quy hoạch không gian bảo tồn và nâng cấp hạ tầng: Ủy ban nhân dân huyện Lâm Thao chủ trì phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ lập quy hoạch mở rộng vùng đệm di tích Miếu Trò lên quy mô khoảng 1,5 ha giai đoạn 2018 - 2022; trồng tái tạo không gian rừng Trám cổ, xây dựng khu dịch vụ và bãi trông giữ phương tiện cách xa khu vực tế lễ ít nhất 200 mét nhằm triệt tiêu hiện tượng ùn tắc.
-
Chuẩn hóa quy chế tự quản và nâng cao năng lực cán bộ: Ủy ban nhân dân xã Tứ Xã ban hành Quy chế quản lý lễ hội nội bộ, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho 100% thành viên Ban khánh tiết, nghệ nhân đội Trò và lực lượng an ninh trước ngày mùng 10 tháng Giêng hàng năm; phân định rõ trách nhiệm kiểm tra nhà nước và quyền chủ động điều hành nghi lễ của các bậc cao niên xóm Trám.
-
Kiểm soát tài chính công đức và văn minh lễ hội: Lắp đặt hệ thống hòm công đức chuẩn hóa theo Thông tư 04/2011/TT-BVHTTDL, xóa bỏ 100% các điểm đổi tiền lẻ trái phép hưởng chênh lệch; thành lập tổ kiểm đếm tiền giọt dầu có sự tham gia của đại diện Mặt trận Tổ quốc xã, công khai tài chính minh bạch trên loa truyền thanh sau khi kết thúc lễ hội.
-
Phát triển sản phẩm du lịch di sản bền vững: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Lâm Thao xây dựng đề án liên kết Lễ hội Trò Trám với tour du lịch tâm linh Giỗ Tổ Hùng Vương - Đền Mẫu Âu Cơ; tổ chức trình diễn trích đoạn Bách nghệ khôi hài phục vụ khách du lịch quanh năm, phấn đấu nâng thời gian lưu trú trung bình của du khách tại huyện lên 1,5 ngày.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao và là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng:
Nhóm cán bộ quản lý văn hóa nhà nước: Bao gồm chuyên viên Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện, cùng lãnh đạo Ủy ban nhân dân các xã có di tích. Tài liệu cung cấp quy trình quản lý thực chứng, các mẫu văn bản chỉ đạo và giải pháp xử lý xung đột đám đông tại các lễ hội có yếu tố nhạy cảm, phồn thực.
Nhóm giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu học thuật: Chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Di sản học và Nhân học văn hóa. Cung cấp hệ thống tư liệu điền dã phong phú, chuẩn xác về tín ngưỡng thờ Nữ thần Ngô Thị Thanh và nghệ thuật sân khấu dân gian nguyên thủy.
Nhóm doanh nghiệp lữ hành và phát triển du lịch: Các nhà quản trị tour du lịch văn hóa có thể khai thác các cứ liệu về diễn trình lễ rước, trò diễn Tứ dân chi nghiệp để xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm độc đáo vùng Đất Tổ.
Nhóm Ban quản lý di tích và cộng đồng cư dân địa phương: Ban khánh tiết các làng xã tham khảo mô hình phân cấp tự quản, phương thức tổ chức đội trò dân gian và kinh nghiệm bảo tồn di sản phi vật thể gắn với xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
Lễ hội Trò Trám diễn ra vào thời gian và địa điểm nào?
Lễ hội được tổ chức thường niên vào ngày 11 và 12 tháng Giêng âm lịch tại Miếu Trò (còn gọi là Miếu Đụ Đị) và Điếm Trám thuộc xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, cách quần thể Di tích Lịch sử Đền Hùng khoảng 5 km về phía Tây Nam.
Nghi thức Lễ Mật trong Lễ hội Trò Trám có ý nghĩa gì?
Lễ Mật diễn ra vào lúc 0 giờ đêm ngày 11 tháng Giêng, là nghi lễ tâm linh linh thiêng nhất cầu cho mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi. Đôi nam nữ được lựa chọn sẽ cầm sinh thực khí Nõ và Nường làm động tác giao hòa 3 lần trong bóng tối sau hiệu lệnh của cụ thủ từ.
Khung pháp lý cao nhất điều chỉnh việc tổ chức Lễ hội Trò Trám là gì?
Hoạt động quản lý lễ hội căn cứ trực tiếp vào Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi năm 2009), Chỉ thị 41-CT/TW của Ban Bí thư, Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Quyết định công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.
Trò diễn Tứ dân chi nghiệp bao gồm những hoạt động biểu diễn nào?
Đây là hình thức diễn xướng dân gian độc đáo Bách nghệ khôi hài gồm 11 lớp trò tái hiện 4 tầng lớp xã hội Sĩ, Nông, Công, Thương với các vai như thầy đồ dạy học, vua Thuấn cày voi, thợ cấy, thợ mộc, đánh lờ, bán xuân, quay tơ dệt vải mang yếu tố gây cười hóm hỉnh.
Phương thức kiểm soát trật tự và vệ sinh môi trường tại lễ hội được thực hiện ra sao?
Ủy ban nhân dân xã Tứ Xã phối hợp lực lượng công an huyện Lâm Thao bố trí các chốt kiểm soát an ninh phân luồng phương tiện từ xa, kết hợp đặt các thùng rác lưu động và huy động tổ tự quản thu gom xử lý rác thải liên tục trong suốt 2 ngày diễn ra lễ hội.
Kết luận
- Luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về công tác quản lý Lễ hội Trò Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ dưới góc độ khoa học Quản lý văn hóa.
- Làm rõ cấu trúc di sản phồn thực độc đáo gồm Lễ Mật, Rước lúa thần và trò diễn Tứ dân chi nghiệp gắn với Di tích Lịch sử cấp tỉnh Miếu Trò.
- Đánh giá toàn diện thực trạng phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức tự quản cộng đồng trong giai đoạn khảo sát 2016 - 2017.
- Chỉ rõ các thách thức về quá tải du khách, rủi ro biến dạng không gian thiêng và sự thiếu đồng bộ của hạ tầng kỹ thuật.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ 4 nhóm nhiệm vụ gắn với mốc lộ trình 2018 - 2022, tạo bước chuyển biến căn bản cho công tác bảo tồn di sản phi vật thể quốc gia.
Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và chính quyền cơ sở cần nhanh chóng triển khai ứng dụng các khuyến nghị của luận văn vào thực tiễn mùa lễ hội tiếp theo để bảo tồn vẹn nguyên giá trị di sản văn hóa vùng Đất Tổ.