Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG VÀ HOẠT ĐỘNG VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Một số khái niệm 1. Quản lý Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước được đề cập trong nhiều nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cụ thể: Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội) đảm bảo thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó… do tính chất lao động của con người, quản lý tồn tại trong mọi xã hội, ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào.
Quản lý là một khoa học dựa trên cơ cở vận dụng các quy luật phát triển của đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật. Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, kế hoạch và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt [21, tr. Trong cuốn Quản lý hành chính nhà nước của tác giả Mai Hữu Luân đã xác định: Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định. Quản lý là sự tác động có chủ định, có tổ chức theo một hệ thống, được tác động liên tục từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý để đạt được mục tiêu đề ra [24, tr.
15 Theo tác giả Harold Koontz trong cuốn Những vấn đề cốt yếu của quản lý: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” [48]. Từ định nghĩa trên có thể thấy quản lý là sự tác động có mục đích và có tổ chức của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của hệ thống, đạt được các mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trường luôn thay đổi. Qua các khái niệm trên, có thể xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành của quản lý, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Có thể thấy, quản lý được xem là hoạt động có ý thức, gắn liền với những mục tiêu đã được xác lập cụ thể.
Hoạt động quản lý như “sợi dây” để gắn kết giữa các cá nhân về công việc cũng như tạo cơ hội để các cá nhân phát huy được năng lực, có thêm động lực để làm việc hiệu quả. Đây cũng là công cụ giúp tác giả luận văn tiếp cận và xác định các nội dung căn bản để quản lý hoạt động văn nghệ quần chúng. Văn nghệ quần chúng Khái niệm “văn nghệ” được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng là văn học và nghệ thuật, bao gồm văn học, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, kịch, múa, điện ảnh; nghĩa hẹp là hoạt động biểu diễn nghệ thuật như ca, múa, nhạc. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này bao gồm hai thành phần văn và nghệ.
Văn nghệ có nghĩa là văn học và nghệ thuật. Văn nghệ là một danh từ kép được ghép bởi thành tố “văn” tức là những giá trị văn hoá được sáng tạo bởi các hình thức thơ, ca dao, câu đối, câu đố, hò, vè, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích… được lưu truyền bằng văn tự hoặc truyền miệng. “Nghệ” là nghề, là kỹ năng, là khả năng lao động của con người để làm ra của cải vật chất và những giá trị đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội. Do đó có nghề sản xuất ra của cải vật chất, những giá trị văn hóa vật chất đáp ứng nhu cầu 16 đời sống vật chất của con người; có nghề tuy không làm ra của cải vật chất nhưng lại sản xuất ra những giá trị tinh thần để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người, đó là làm văn, làm thơ, vẽ tranh, ca hát, múa, công tác xã hội khác… hoặc có những nghề chuyên phục vụ đáp ứng nhu cầu giải trí, làm đẹp con người.
“Nghệ” còn được coi là khả năng sáng tạo, khả năng làm việc của con người một cách khéo léo, sáng tạo có kinh nghiệm, kỹ thuật. Đó là kỹ năng, khả năng của con người tạo ra của cải vật chất và giá trị thông qua lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội. Nghệ còn là năng lực sáng tạo, năng lực làm việc lành nghề và sáng tạo, có kinh nghiệm và kỹ năng của con người. Đây là một kỹ năng chuyên nghiệp.
Dựa trên cơ sở đã nêu chữ “nghệ thuật” được dùng cho mọi lĩnh vực hoạt động, mọi loại hình sáng tạo của con người (như nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật ca, múa, nhạc, kịch, nghệ thuật giao tiếp, nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật nhiếp ảnh…). Bên cạnh đó, văn nghệ còn được biết đến với nghĩa quen thuộc, đó là hoạt động biểu diễn nghệ thuật gồm: ca, múa, sân khấu… với nhiều thể loại hát dân gian, dân tộc, kịch nói, kịch múa, ca nhạc, nhạc, tấu hài, tạp kĩ. Quần chúng được hiểu là số đông, đông đảo nhân dân. “Quần chúng” trong đề tài này, tác giả muốn nói đến vai trò của quần chúng trong văn hóa, nghệ thuật, hay nói cách khác, văn nghệ là do quần chúng thực hiện.
Rõ ràng, văn nghệ phổ biến mang tính quần chúng rộng rãi. Từ khi ra đời, văn nghệ gắn liền với đời sống của nhân dân lao động, phản ánh tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân. Từ đó, tính quần chúng nhân dân trở thành thuộc tính quan trọng thể hiện sức sống bền vững của hoạt động văn nghệ. Văn nghệ quần chúng ở đây là nghệ thuật do quần chúng thực hiện trên cơ sở phát huy tính sáng tạo, chủ động, tự nguyện của quần chúng, theo cách thức riêng của mình, dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, được sự hướng dẫn, chỉ đạo của nhà nước, đó là nền tảng của văn hóa đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa ngày càng cao của người dân Việt Nam chủ nghĩa xã hội.
17 Trong cuốn Trần Độ tác phẩm, tập III, Nxb Hội Nhà Văn (2012) có bài viết Thử bàn về văn nghệ quần chúng, văn nghệ nghiệp dư, văn nghệ dân gian tác giả đề cập đến khái niệm văn nghệ quần chúng, cắt nghĩa nội hàm khái niệm liên quan đến văn nghệ quần chúng. Đồng thời, bài viết cũng phân biệt khái niệm văn nghệ quần chúng với văn hóa quần chúng và văn hóa dân gian. Trong đó, tác giả Trần Độ đề cập đến khái niệm văn nghệ quần chúng còn được hiểu như sau: Là hoạt động văn nghệ nghiệp dư. Trong đó những người hoạt động văn nghệ nghiệp dư coi hoạt động nghệ thuật là hoạt động thêm, còn hoạt động chủ yếu và nguồn sống của họ là một nghề nào đó trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, giáo dục.
Họ hoạt động nghệ thuật thêm ngoài giờ lao động, chính là vì họ biết nghệ thuật, thích nghệ thuật và thông thường họ đã được đào tạo về nghệ thuật đến một mức độ nhất định (trung cấp hoặc đại học)…. Họ cũng cần đến sự giúp đỡ của các nghệ sĩ chuyên nghiệp và nhiều khi họ cũng có điều kiện và yêu cầu nâng cao chất lượng nghệ thuật như những người hoạt động chuyên nghiệp…. Ở ta, văn nghệ quần chúng được mọi người quan niệm là một thứ văn nghệ của tất cả mọi người, là sự hoạt động nghệ thuật của nhiều người không được hoặc không cần có sự đào tạo về nghệ thuật. Những người hoạt động nghệ thuật quần chúng là những người yêu thích nghệ thuật, có nhiệt tình, có đôi chút năng khiếu và được huấn luyện đôi chút bằng nhiều cách [14, tr.
Tại Tổng công ty Điện lực Thành phố Hà Nội, quần chúng là đông đảo cán bộ, công nhân viên, người lao động. Văn nghệ quần chúng trong Tổng công ty do chính cán bộ, công nhân viên, người lao động trực tiếp chủ động sáng tạo, tổ chức và hưởng thụ. Văn nghệ quần chúng giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn nghệ của mọi thành viên. Mặt khác cũng cần 18 thấy rằng, nghệ thuật chuyên nghiệp dù phát triển mạnh mẽ đến đâu, cũng chưa đáp ứng được hết yêu cầu nguyện vọng của quần chúng, không thay thế được văn nghệ quần chúng.
Dựa trên cơ sở phát triển mạnh mẽ các hoạt động văn nghệ quần chúng, phát huy sức sáng tạo, chủ động của quần chúng, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo tác giả luận văn, văn nghệ quần chúng là sự tổng hòa toàn bộ quá trình sáng tạo, giữ gìn, truyền bá và thưởng thức các giá trị văn học, nghệ thuật dưới sự lãnh đạo của tổ chức đơn vị, là một bộ phận cấu thành đời sống tinh thần của người lao động. Hoạt động văn nghệ quần chúng Hoạt động được hiểu là phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình. Trong mối quan hệ ấy, chủ thể của hoạt động là con người, khách thể của hoạt động là tất cả những gì mà hoạt động tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể.
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Theo tâm lí học mácxit, cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau. Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động và các phẩm chất tâm lí khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể.
Theo đó, hoạt động văn nghệ quần chúng được hiểu là quá trình sáng tạo văn hóa nghệ thuật mà chủ thể là quần chúng nhân dân lao động - những nghệ sĩ không chuyên nhằm tạo ra những giá trị, sản phẩm tinh thần thỏa mãn nhu cầu của chính chủ thể đó.