Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề Chương 2: Khái quát về quản lý làng xã trước năm 1921 và hương ước cải lương ở Thái Bình Chương 3: Quản lý kinh tế ở làng xã Thái Bình qua hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945 Chương 4: Quản lý hành chính, văn hóa ở làng xã Thái Bình qua hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945 Chương 5: Một số nhận xét về việc quản lý làng xã qua hương ước cải lương ở tỉnh Thái Bình từ năm 1921 đến năm 1945 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các công trình nghiên cứu về hƣơng ƣớc, quản lý làng xã qua hƣơng ƣớc cổ truyền (trƣớc năm 1921) 1. Các công trình của học giả nước ngoài Trước cách mạng tháng Tám, từ thế kỉ XVII, một số người phương Tây đã có những ghi chép về Việt Nam, trong đó có ghi chép về làng Việt, tục lệ trong làng Việt, như: Tập du kí mới và kì thú về Vương quốc Đàng Ngoài của Jean Baptiste Tavernier (Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2005), Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 của Dampier William (Nxb Thế giới, Công ty Từ Văn, Hà Nội, năm 2011),… đã cho chúng ta một số thông tin về tục lệ, sự ràng buộc của tục lệ đó đối với cư dân trong làng Việt. Công trình La Commune Annamite au Tonkin (Làng xã An Nam ở Bắc kỳ, 1894) của P.Ory đã đề cập đến một số vấn đề về tục lệ, tập quán trong các làng xã ở Bắc kỳ.
Cuốn Les paysans du Delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ của P.Gourou (xuất bản lần đầu tại Paris, năm 1936) đã nghiên cứu về văn hóa, cư dân của làng xã đồng bằng Bắc Bộ. Trong cuốn này, P. Gourou đã trình bày một số nét về tục lệ, lệ làng, hương ước của các làng xã người Việt và cho thấy rõ tính quy định bắt buộc đối với việc thực hiện theo các tục lệ trong làng xã người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. Gourou nhận ra sự chi phối của tục lệ, lệ làng đối với đời sống làng xã: “Làng là một cộng đồng tự trị, tự giải quyết mẫu thuẫn giữa các thành viên… Tính độc lập của làng là rõ ràng.
Nó thể hiện trong câu tục ngữ “Phép vua thua lệ làng”[82,tr. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày càng xuất hiện nhiều các công trình của các tác giả nước ngoài nghiên cứu về làng Việt nói chung, hương ước, quản lý làng xã qua hương ước. Có thể kể ra một số tác giả và tác phẩm: Insun Yu với công trình Luật và xã hội Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII (Nxb Khoa học xã hội, năm 1994). Nội dung chính của công trình này là trình bày, phân 8 tích luật Việt Nam thời Lê sơ.
Trong đó, Insun Yu có đề cập đến vấn đề người dân của làng xã chịu sự tác động, quản lý không chỉ của luật pháp của nhà nước mà còn cả của những tục lệ di làng xã lập ra. Công trình Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ của Philippe Papin và Olivier Tessier (chủ biên) (Trung tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia xuất bản năm 2001) cũng đề cập một vài khía cạnh về quản lý làng xã truyền thống ở các làng: Hay (Thanh Ba, Phú Thọ), làng Mộ Trạch (Bình Giang, Hải Dương) Tả Thanh Oai (Thanh Trì, Hà Nội), làng Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) như về các vấn đề dòng họ, quản lý ruộng đất,. John Kleinen với công trình Facing the Future, Reviving the Past: A Study of Social Change in a Northern Vietnamese Village (Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ: Một nghiên cứu về thay đổi xã hội ở một làng miền Bắc Việt Nam) của John Kleinen (bản dịch của Hội Khoa học Lịch sử, Nxb Lao động, năm 2013). Ở công trình này, tác giả đã trình bày về quá trình hình thành và phát triển của làng Việt từ thời kỳ thực dân, thời kỳ thuộc địa, thời kỳ chiến tranh, thời cải cách ruộng đất, thời kỳ tập thể hóa.
Trong đó tác giả dành một chương (Chương 8: Đời sống lệ nghi ở làng) trình bày về phong tục, tập quán ở làng. Qua đó tác giả cũng cho thấy các tục lệ, hương ước có vai trò như những luật lệ bắt buộc đối với cư dân, góp phần điều chỉnh quan hệ xã hội ở làng. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về làng xã, hương ước, quản lý làng xã người Việt truyền thống khá đa dạng. Dưới các góc nhìn khác nhau, vấn đề quản lý làng xã qua hương ước đã được các tác giả nghiên cứu.
Phần lớn các tác giả đều nhận thức vai trò của hương ước trong điều chỉnh các quan hệ xã hội ở làng, bộ phận quản lý làng xã đã dựa vào hương ước, tục lệ để mà cai trị cư dân. Các công trình của học giả trong nước Trước Cách mạng tháng Tám, nhiều tác giả trong nước đã quan tâm, nghiên cứu về làng Việt, hương ước, quản lý làng Việt thông qua hương ước. Công trình Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính đã dành một phần lớn của cuốn sách để nói về “Phong tục hương đảng” chốn hương thôn, làng xã. Các ngôi 9 thứ, viên chức, hương ẩm, lễ khao vọng, hương học… Dù chưa sử dụng quản lý làng xã bằng hương ước nhưng Phan Kế Bính đã nhận thấy rõ vai trò của hương ước trong quản lý làng xã: “Chốn hương thôn thường có ước hẹn riêng với nhau, lập ra sổ sách, đồng dân ký kết gọi là khoán ước.
Trong khoán ước có thưởng phạt, trừ ra các việc lớn đã có phép của nhà nước, còn việc nhỏ thì trong dân thôn thi hành lẫn nhau…” [9,tr. Cùng thời gian nửa đầu thế kỷ XX, các tác giả Nguyễn Văn Huyên với: Recherche sur la Commune Annamite (Nghiên cứu xã Annam) (năm 1939), Histoire de la fondation d’une commune annamite au Tonkin (Lịch sử thành lập một xã Annam ở Bắc Kỳ (năm 1941), La Civilisation annamite (Văn minh An Nam) (năm 1944),. ; Nguyễn Văn Khoan, Về ngôi thứ trong làng, (BEFEO, năm 1930, tr.132); Ngô Tất Tô với “Việc làng”… ít nhiều có nói đến hương ước, sự tác động của hương ước đối với cư dân làng xã Bắc Bộ xưa. Kể từ sau năm 1954, việc nghiên cứu về làng xã Việt Nam được đẩy mạnh.
Nguyễn Hồng Phong với Xã thôn Việt Nam tác giả đã dành phần lớn của cuốn sách để viết về bộ máy quản lý thôn xã, tổ chức và sinh hoạt cộng đồng ở xã thôn: “… Phép vua thua lệ làng. nhà nước không thể muốn tổ chức bộ máy cai trị ở xã thôn thế nào thì được như thế” [80,tr.140]… Ở miền Nam, tác giả Lương Đức Thiệp trong chuyên khảo về Xã hội Việt Nam, ở cuốn thứ nhì tác giả đã dành một số dung lượng để viết về Chính trị và xã hội tổ chức (chương II), để nói về xã thôn Việt Nam, Xã hội sinh hoạt (chương III), để nói về phong tục [98]. Tác giả Phan Khoang với chuyên khảo Lược sử chế độ xã thôn ở Việt Nam trên Tập san Sử địa (số 1, 1966). Tác giả đã chỉ rõ tính tự trị của làng xã trên cơ sở hương ước để tự trị, tự quản.
“xã có tục lệ riêng. Thể lệ là tập tục về các tổ chức nói trên đều được định rõ trong hương ước nó đối với dân trong làng cũng như hiến pháp đối với dân trong nước vậy. Cũng có điều không ghi trong hương ước, nhưng đã thực hành lâu ngày thành ra tập tục, truyền tự đời nọ đến đời kia, thì dân làng cũng phải tuân theo như đã ghi trong Hương ước” [52,tr. 10 Trong hai công trình: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, năm 1977 - 1978 và Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, năm 1990-1992 của Viện Sử học đều có những bài nghiên cứu về làng xã, hương ước, quản lý làng xã, như: Vũ Huy Phúc với “Tổ chức quản lý xã thôn: Chức năng và tính chất”, Nguyễn Đổng Chi với “Quan hệ giữa nhà nước và làng xã ở Việt Nam trước cách mạng”, Nguyễn Đức Nghinh với “Lệ làng và nho sĩ”[119].
Công trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ của Trần Từ (Nxb Khoa học xã hội, 1984), trong công trình của mình, trong “mục III: Vận hành của cơ cấu xem như một tổng thể” tác giả đã dành nhiều trang để viết về “những đơn vị hành chính - “ốc đảo” và vai trò hai mặt của hương ước”, thể hiện góc nhìn của một chuyên gia “Hương ước đã xuất hiện từ bao giờ trong lịch sử của từng làng xã Việt? Có ý kiến cho rằng đây là luật lệ riêng của làng xã, vốn bất thành văn đến thời Pháp thuộc chép lại thành văn bản để buộc các làng quê vào khuôn phép”[108,tr. Tác giả Văn Tạo với chuyên khảo “Chúng ta kế thừa di sản nào? trong khoa học và kỹ thuật pháp luật và hương ước nông thôn và nông nghiệp” (Nxb Khoa học xã hội, 1993) đã chỉ rõ hương ước như một di sản cần được nghiên cứu kĩ lưỡng để rút ra bài học cho quản lý xã hội hiện nay. Tác giả Phan Đại Doãn với Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử (Nxb Chính trị quốc Gia, năm 2004), Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội (Nxb Chính trị quốc gia, năm 2010) và Từ làng đến nước một cách tiếp cận lịch sử, (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010) đã trình bày nhiều vấn đề lý luận và thực tế của làng xã cổ truyền, trong đó có nhiều nội dung đề cập đến hương ước, vai trò của hương ước, việc cư dân tự nguyện thực hiện các quy định của hương ước đồng thời tầng lớp cường hào cũng dựa vào hương ước để bóc lột người nông dân. Tác giả Bùi Xuân Đính với nhiều công trình nghiên cứu về làng xã, về hương ước, về quản lý làng xã qua hương ước.
Lệ làng phép nước (Nxb Pháp lý, Hà Nội năm 1985), Hương ước làng ven đô (Bùi Xuân Đính - Đinh Khắc Thuân, Tạp chí Hán Nôm, 1/1991), Hương ước và quản lý làng xã (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 11 năm 1998),… Ở các công trình này đều thể hiện rõ vấn đề vai trò của hương ước trong đời sống làng xã, hương ước như bộ luật của làng, nhiều khi có tác dụng điều chỉnh hành vi của cư dân làng hữu hiệu hơn cả luật của nhà nước. “Hương ước - công cụ để nhà nước phong kiến can thiệp và quản lý làng, điều hòa lợi ích giữa làng và nhà nước”[30,tr.