CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ KIẾN TRÚC CẢNH QUAN THÔN BẢN TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH LÀO CAI 1. Tổng quan quản lý kiến trúc cảnh quan thôn bản truyền thống trên thế giới và ở Việt Nam. Trên thế giới a) Hàn Quốc: Làng Seongeup thuôc đảo Jeju, hình thành từ thế kỷ 15, nơi lưu giữ và tái hiện nét văn hóa, phong tục truyền thống của ngư dân trên đảo từ xa xưa.
Ngôi làng với trên 250 ngôi nhà truyền thống nhỏ, đơn sơ, cùng một phong cách kiến trúc nhưng vẫn có những nét đẹp riêng, các ngôi nhà này đều không có cổng, hàng rào xếp đá. 1: Làng dân tộc Seongup, JeJu, Hàn Quốc Chính quyền đảo Jeju đã thực hiện tốt công tác quy hoạch, kiến trúc, ban hành quy định về quản lý quy hoạch, kiến trúc, xây dựng; ban hành các cơ chính sách hỗ trợ về việc cải tạo, phục dựng các ngôi nhà truyền thống cũng như cảnh quan cho làng để PTDL; huy động cộng đồng dân cư tham gia phục dựng, quản lý và PTDL. MHQL hiện nay là sự kết hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp khai thác du lịch và người dân trong làng rất hiệu quả. Ngoài bảo tồn được kiến trúc truyền thống, cảnh quan, làng Seongeup còn là điểm du lịch hấp dẫn, hàng năm có hàng triệu du khách đến tham quan.1) b) Trung Quốc: Kinh nghiệm quản lý KTCQ đô thị - nông thôn nói chung và các thôn bản truyền thống nói riêng ở Trung Quốc là đã kiến tạo nên một sự hài hòa hợp lý giữa bảo tồn những giá trị đích thực của truyền thống, của BSVH địa phương 11 với sự bổ sung các yếu tố mới, nâng cấp và phát triển chất lượng sống để đáp ứng nhu cầu của dân cư trong quá trình cải tạo xây dựng, phát triển các thôn bản.
Làng Dadun - thành phố Phật Sơn là một ví dụ (Hình 1. Dadun là một ngôi làng nông nghiệp điển hình ở đồng bằng Châu Giang, hình thành từ thế kỷ 17, có nhiều hệ thống kênh rạch nằm chằng chịt trên những vùng đất thấp làm nguồn cấp nước sạch. Những dòng kênh và đường giao thông rợp bóng cây với các công trình nhà ở san sát tạo nên không gian làng quê ấm cúng. Năm 2008, một đề án về bảo tồn và tái thiết mạng lưới kênh, mặt nước để không biến đổi cấu trúc của làng, đồng thời hiện đại hóa kỹ thuật hạ tầng và nhà ở nhằm đáp ứng nhu cầu của cư dân và PTDL sinh thái hiệu quả [89].
2: Quy hoạch cảnh quan làng Dadun. [Nguồn 89] c) Nhật Bản: Công nghiệp hóa đất nước từ những năm 70, các ngành công nghiệp Nhật Bản hình thành và phát triển mạnh ở các đô thị, tạo nên dòng cuốn hút lao động từ các vùng nông thôn dẫn đến tình trạng già hóa và hoang tàn của các làng quê. Phải vực dậy kinh tế của nông thôn Nhật Bản với Chương trình mỗi làng một sản phẩm, không những phát triển kinh tế trên cơ sở khai thác tiềm năng thế mạnh của các địa phương mà còn tạo ra các cơ hội PTDL, bảo tồn và phát triển KTCQ các làng tại các vùng nông thôn ở Nhật Bản. Làng Atelier Toki, một ngôi làng nghề của tỉnh Oita.
Cách thủ đô Tokyo khoảng 500km, nằm ở phía Tây Nam Nhật Bản, người dân làng Atelier đã lựa chọn mô hình du lịch sinh thái kết hợp với làng nghề truyền thống tạo dựng KTCQ làng. Chính quyền đã xây dựng, ban hành các QCQL KTCQ làng trên cơ 12 sở đặc thù của kiến tạo cảnh quan mang đậm dáng dấp cổ xưa của ngôi làng Nhật với những dãy nhà nhỏ lô xô, lúp xúp, những bức tường mái ngói rêu phong, kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên đồi núi tạo nên một vẻ đẹp tự nhiên, yên ả của vùng quê ven núi đồi. Ngoài làng Atelier Toki, tỉnh Oita còn nhiều làng nghề khác như Ynfuan, Tsukahara v. 3: Làng gỗ mỹ nghệ Atelier Toki, Hình 1.
4: Làng nghề Yufuin thuộc tỉnh tỉnh Oita, Nhật Bản Oita, Nhật Bản d) Indonesia: Indonexia là đất nước vạn đảo, rất quan tâm đến việc quản lý, khai thác thế mạnh về văn hóa, bản sắc dân tộc và cảnh quan thiên nhiên các thôn bản để PTDL, qua ví dụ làng Plangan, Botri trên đảo Timo. Ở đây đã nghiên cứu, ứng dụng MHQL KTCQ gắn với kinh doanh du lịch, đảm bảo lợi ích giữa chính quyền, người dân và các doanh nghiệp khai thác du lịch, đồng thời bảo tồn được văn hóa, bản sắc và kiến trúc truyền thống bản địa. Trên cơ sở chiến lược phát triển tổng thể du lịch, chính quyền các địa phương đã quan tâm và tập trung hàng đầu vào công tác tổ chức lập quy hoạch và quản lý khai thác KTCQ, chú trọng lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng của người dân bản địa, khách du lịch và các doanh nghiệp du lịch đồng thời quan tâm đến việc bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, kiến trúc truyền thống và văn hóa bản địa khi khai thác PTDL. Chính quyền đã xây dựng các quy định quản lý khai thác du lịch làm cơ sở để chính quyền địa phương quản lý, kiểm soát.
Người dân và các doanh nghiệp hoạt động du lịch phải có trách nhiệm giữ gìn và duy trì, bảo tồn KTCQ và môi trường sinh thái các làng bản [39]. Ở Việt Nam a) Tỉnh Hà Giang: Hà Giang đã làm tốt công tác quản lý KTCQ các thôn bản cổ để PTDL của địa phương, như mô hình Làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm, xã Sủng Là, huyện Đồng Văn (Hình 1. 5: Làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm, Đồng Văn, Hà Giang Để quản lý KTCQ các thôn bản trong đó có làng Lũng Cẩm, Ủy ban nhân dân tỉnh và cấp huyện đã:[39] - Tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch, xây dựng v.v đến tất cả các thôn bản trên địa bàn. - Tổ chức lập quy hoạch các thôn, bản có tiềm năng PTDL, giữ gìn bản sắc, truyền thống; thực hiện công tác quản lý quy hoạch, xây dựng, cảnh quan phục vụ du lịch; ban hành quy định cấp phép xây dựng đối với những bản làng chưa có quy hoạch chi tiết.
- Quy định trách nhiệm của Chủ tịch các xã trong công tác quản lý quy hoạch, xây dựng và KTCQ; tăng cường phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhịp nhàng giữa các phòng, ban chuyên môn của huyện và xã trong kiểm tra, xử lý vi phạm; chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ý thức trách nhiệm của cán bộ làm công tác quản lý cấp xã. - Thành lập Đội quản lý trật tự xây dựng ở các xã gồm: 1 Phó Chủ tịch xã làm Đội trưởng và các thành viên công an xã, quân sự xã, cán bộ địa chính - xây dựng, cán bộ quản lý trật tự đô thị tăng cường, trưởng thôn bản, lực lượng dân quân, ban bảo vệ thôn bản v. để thực thi quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng, KTCQ thôn bản phục vụ PTDL. - Thành lập BQL du lịch của từng bản để quản lý hoạt các động du lịch tại các thôn bản.
b) Tỉnh Cao Bằng: Kinh nghiệm quản lý quy hoạch, xây dựng, KTCQ các thôn bản trong thành phố Cao Bằng được tổng quát ở những nội dung sau:[39] - Ban hành QCQL thôn bản nông thôn, phát cho các cơ quan đóng trên địa 14 bàn, các trưởng bản, trưởng thôn, trưởng xóm để thường xuyên tuyên truyền phổ biến giáo dục người dân thực hiện tốt các quy định về quản lý quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, cảnh quan, vệ sinh môi trường. - Thực hiện tốt sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước thành phố với các xã, phường; bố trí cán bộ đội trật tự đô thị nông thôn (Thanh tra xây dựng tại các xã, phối hợp với cán bộ địa chính, xây dựng kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm), tổ chức Tổ trật tự làng, thôn v. - Thường xuyên củng cố lực lượng của đội và tổ trật tự xây dựng (cán bộ địa chính - xây dựng), nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho công chức, cán bộ đội, tổ trật tự đô thị, trật tự xây dựng v. c) Tỉnh Thái Nguyên: Thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên có 5 phường và 4 xã.
Trong công tác quản lý quy hoạch, xây dựng và KTCQ đã tiến hành các hoạt động sau: - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã tổ chức niêm yết và hướng dẫn các tổ chức đoàn thể và nhân dân trong xã, phường chấp hành đầy đủ các quy định về QHXD trong làng xã, tổ chức tập huấn cho trưởng thôn bản, Chính quyền và cán bộ địa chính - xây dựng xã về các quy định và trình tự, thủ tục xử lý các vi phạm. Tăng cường kiểm tra, phát hiện vi phạm từ xóm, bản, làng, tổ dân cư. - Đẩy mạnh và hoàn thiện quy hoạch chi tiết làng, triển khai thực hiện cắm mốc giới hạn theo quy hoạch. Lập điều lệ quản lý KTCQ.
- Thành lập Ban quản lý trật tự xây dựng giao thông xã giúp Ủy ban nhân dân xã xử lý kịp thời các vi phạm trên địa bàn làng xã; củng cố tổ chức bộ máy quản lý, tăng cường trách nhiệm của Ủy ban nhân dân xã, trưởng thôn, làng, bản trong kiểm tra, quản lý quy hoạch, xây dựng, cảnh quan thôn bản, xóm v. [41] d) Tỉnh Yên Bái: Bản Đêu nằm ở ngoại thị của thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Những năm gần đây chính quyền thị xã Nghĩa Lộ đã tập trung vào công tác quy hoạch Bản Đêu để tạo đà PTDL cộng đồng gắn liền việc khai thác với tôn tạo, bảo tồn vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên cùng các giá trị văn hóa truyền thống 15 đặc sắc của các dân tộc, nhất là đồng bào Thái. Nắm bắt được nhu cầu của khách du lịch là được hòa mình vào với thiên nhiên, vào với đời sống sinh hoạt thường ngày của người dân địa phương, người dân ở bản đã cải tạo lại ngôi nhà của mình theo hướng văn minh hiện đại về tiện nghi sử dụng, bảo tồn giá trị truyền thống của ngôi nhà sàn, các thiết bị nội thất, chăn đệm ngủ v.
cho khách nghỉ (home stay). Mọi sinh hoạt của du khách gắn với sinh hoạt của các gia đình, tạo ra sự thoải mái, gần gũi của du khách với gia đình và các thành viên của cộng đồng, PTDL cộng đồng phải gắn với giữ gìn và bảo tồn giá trị truyền thống, BSVH dân tộc [41].