CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ngoài nước Ở nhiều nước, công tác KTNB trường học được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và được gọi theo nhiều cách khác nhau.
Tuy nhiên, các nghiên cứu đều thống nhất rằng công tác KTNB trường học được thực hiện hoàn toàn bởi nhân viên của nhà trường, được thành lập thành một nhóm đánh giá nội bộ. Nguyên cứu về những vấn đề cốt yếu trong quản lý của tác giả Harold Koontz và các cộng sự cho rằng “Kiểm tra là một quá trình”. Quá trình này bao gồm 3 bước: (1) xây dựng các tiêu chuẩn; (2) Đo đạc việc thực hiện; (3) Điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định [19]. Trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của kiểm tra nội bộ trường học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân” được thực hiện khi Chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường học thực hiện công tác tự đánh giá chất lượng, hai tác giả người Anh là Hall, C.
(2007) đã phân tích về nhận thức và hiểu biết của GV về quy trình KTNB trường học; đồng thời xem xét mối liên hệ giữa thanh tra viên và GV thuộc nhóm KTNB trường học thay đổi thế nào kể từ khi chính sách có hiệu lực. Kết quả nghiên cứu cho thấy GV và ban lãnh đạo trường học đã hưởng ứng, thực hiện tốt công tác KTNB trường học; đặc biệt GV sử dụng KTNB trường học như một công cụ, biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của bản thân. Trong công trình nghiên cứu về những vấn đề QL của hiệu trưởng trường phổ thông V. Xtrezicondin, Jaxapob (1984), 7 nghiên cứu bàn luận các vấn đề phân công Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và trách nhiệm kiểm tra trong quản lý, đặc biệt coi trọng sự trao đổi giữa Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng để tìm ra cách QL tốt nhất.
Tác giả đã khẳng định “Hiệu trưởng là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm cao nhất trong công tác quản lý nhà trường”. Bằng nhiều biện pháp khác nhau, người Hiệu trưởng phải biết bồi dưỡng đội ngũ trở thành những người tốt theo tiêu chuẩn nhất định. Nhiều nghiên cứu về công tác KTNB trường học của một số nước đã chỉ ra rằng: Đánh giá nội bộ trường học có tác động tích cực đến hoạt động của trường học, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và gia tăng thành tích học tập của học sinh, mặc dù những ảnh hưởng tích cực này phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ chế quản lý; đề cao vai trò của hiệu trưởng. Các thành viên chuyên trách trong nhóm đánh giá nội bộ của nhà trường chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kiểm tra và quá trình KTNB ở trường học.
Từ một số nghiên cứu trên đây có thể thấy, KTNB trường học được các nhà quản lý giáo dục ở nước ngoài rất coi trọng. Đặc biệt là phát huy vai trò của hiệu trưởng trong việc tổ chức và hoạt động KTNB, có tác động lớn đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, cũng như nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Việc KTNB trường học được giáo viên cho rằng quan trọng hơn và có tác động nhiều hơn đến hoạt động của trường so với những cuộc kiểm tra từ bên ngoài. Nghiên cứu trong nước Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học, đặc biệt là nghiên cứu về quản lý giáo dục, qua đó nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Chính phủ đã xây dựng, tổ chức hệ thống thanh tra từ trung ương đến địa phương và điều hành hệ thống đó bằng các quy định pháp luật, các nghị định, thông tư, … Vấn đề KTNB 8 trong cơ sở giáo dục được đề cập lần đầu tiên trong Quyết định 478/QĐ, ngày 11/3/1993 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra GD&ĐT, trong nội dung khẳng định: “Các hoạt động kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên công khai, dân chủ, kết quả kiểm tra phải được ghi nhận bằng văn bản và được lưu trữ, hiệu trưởng hay thủ trưởng phải chịu trách nhiệm về các kết luận kiểm tra này”. [4] Tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra luôn được Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao, nó gắn liền với công tác quản lý nhằm đảm bảo thực hiện đúng các chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, giúp cho nhà quản lý kịp thời sửa chữa, giúp đỡ khi có sai phạm. Trong Luật Giáo dục năm 2019, tại chương VII cho thấy “Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm pháp luật trong giáo dục” thuộc về nội dung quản lý nhà nước về giáo dục [25]. Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2013, “Về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục”.
Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04/12/2013 “Hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục”. Trong đó có quy định rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục phổ thông là “xây dựng kế hoạch và tổ chức KTNB; thực hiện chế độ báo cáo về công tác KTNB theo quy định” [5]. Nhiều tác giả trong nước cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề KTNB trường học. Trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học”, tác giả Hà Sỹ Hồ đã nêu: “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý”; đồng thời khẳng định: “Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu” [15, tr.
9 Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” cũng đồng quan điểm khi cho rằng: “kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý. Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Không có kiểm tra, không có quản lý” [21]. Tác giả có viết: “Chuẩn bị kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra; trong đó, kiểm tra là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý.
Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo”. Ông khẳng định: “Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn loại trừ” [21]. Nhiều tác giả khác đều đánh giá cao về hoạt động thanh tra, kiểm tra, đánh giá trường học. Một số luận văn liên quan, cụ thể: “Quản lý công tác kiểm tra nội bộ tại các trường trung học cơ sở thuộc quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng” của tác giả Vũ Tuấn Quang (2018) [22], “Quản lý công tác kiểm tra nội bộ trường trung học phổ thông, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình” của tác giả Trần Văn Hương (2016) [16], “Quản lý công tác kiểm tra nội bộ tại các trường trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục” của tác giả Bùi Văn Sỹ (2017) [27].
Các đề tài đã khái quát hóa lý luận về công tác kiểm tra nội bộ trường học, đề cập đến thực trạng và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý KTNB tại các cơ sở giáo dục. Tuy nhiên đến nay, ở các trường THPT trên địa bàn huyện Mang Yang chưa có đề tài nghiên cứu về công tác kiểm tra nội bộ. Do vậy, công tác KTNB trong trường học tại huyện Mang Yang cần tiếp tục được nghiên cứu, làm sáng tỏ để góp phần hoàn hiện hệ thống lý luận giáo dục nói chung và ứng dụng ngay trong thực tiễn phong phú của các nhà trường. 10 Những vấn đề về vị trí, vai trò, mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ cũng như nội dung, phương pháp, hình thức của KTNB trường học hầu hết đều đã được chỉ ra trong các văn bản pháp quy và được nghiên cứu chuyên sâu bởi các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục.
Các nghiên cứu đều khẳng định rằng, KTNB trường học là một trong những biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ thống quản lý đi đúng hướng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, hiện nay các văn bản chỉ đạo về hoạt động thanh tra, kiểm tra giáo dục của cơ quan quản lý giáo dục các cấp mới chủ yếu tập trung đề cập đến các hoạt động thanh tra giáo dục, chưa có nhiều nội dung chỉ đạo, hướng dẫn nội dung, quy trình, cách thức tổ chức công tác kiểm tra nội bộ của các cơ sở giáo dục. Các nhà trường thực hiện kiểm tra nội bộ chủ yếu để thực hiện quá trình quản lý vì vậy việc triển khai công tác kiểm tra nội bộ ở các nhà trường gặp nhiều khó khăn và dễ thiếu sót. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Quản lý Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra định nghĩa không giống nhau về thuật ngữ “quản lý”. Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một cơ quan, đơn vị” [31]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [12, tr.3] “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” [12, tr.3] 11 Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.
Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý.