Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong bất cứ thời kỳ xã hội nào, kiểm tra (KT) luôn là một phạm trù lịch sử và mang tính tất yếu. Xã hội từ khi hình thành và phát triển qua các chế độ xã hội đã chứng minh điều đó. Đề cập đến công tác thanh tra, KT và vai trò ý nghĩa của nó, chủ nghĩa Mác-Lênin đã đánh giá nó như là công cụ hết sức quan trọng, một chức năng quan trọng để quản lý tốt các hoạt động xã hội.
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về công tác kiểm tra trên thế giới với nhiều lĩnh vực như kiểm tra trong quản lý, kiểm tra ở lĩnh vực đời sống xã hội.Theo các tác giả Harold Koontz - Cyril Odonnell - Heinz Weihrich thì KT là một quá trình bao gồm ba bước, đó là xây dựng các tiêu chuẩn, đo đạc việc thực hiện, điều chỉnh các sai lệch. Cũng theo các tác giả trên, cơ chế KT phải được xây dựng căn cứ vào cấp bậc đối tượng và hoạt động của tổ chức; hệ thống KT phải phù hợp với đặc điểm của tổ chức; sự kiểm tra phải được thực hiện tại những điểm trọng yếu; việc KT cần phải tiết kiệm và công việc KT phải tương xứng với chi phí; việc KT phải đưa đến hành động [11] Đối với nước ta, ngay từ khi thành lập và xây dựng đất nước. Đảng, Bác Hồ đã xác định vị trí quan trọng của công tác thanh tra, KT, vì thế từ những ngày mới giành chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ. Ban này có nhiệm vụ là giám sát tất cả các công việc, các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ.
Khi bàn về công tác thanh tra, KT trong giáo dục, của các nhà khoa học đã xây dựng nền tảng cho lý luận về việc thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra trong công tác quản lý nói chung và Quản lý giáo dục (QLGD) nói riêng. Qua đó, giúp các nhà quản lý có những cái nhìn rõ ràng về vai trò và cách thức tổ chức hoạt động thanhtra, kiểm tra trong tổ chức và từng bước vận dụng linh hoạt, phù hợp vào thực tế quản lý ở các cơ sở giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Sự kiểm tra việc thực hiện được đặt ra một cách đúng đắn là ngọn đèn pha giúp làm sáng tỏ tinh thần hoạt động của bộ máy trong bất kỳ thời gian nào, chín phần mười những chỗ hổng, rồi chỗ hở đều do thiếu sự kiểm tra. Thanh tra và kiểm tra thường xuyên, đúng đắn chắc chắn những chỗ hổng, chỗ hở đều có thể ngăn ngừa được” [18].
Bác còn viết “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi. Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự còn phải tổ chức, phải đấu tranh. Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [18].
5 Công tác KT như một công cụ thiết yếu để tăng cường quyền lực Nhà nước ở tất cả các quốc gia. Còn đối với giáo dục, KT là một nội dung quan trọng trong chu trình quản lí, qua đó giúp các nhà quản lí xác định được thực trạng và đưa ra các giải pháp thiết thực, phù hợp và hiệu quả hơn. Có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về công tác thanh tra và KT trong giáo dục như tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Những khái niệm cơ bản về QLGD”; Đặng Quốc Bảo “Một số khái niệm về QLGD”; Trần Kiểm “Khoa học QLGD - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Sỹ Hồ “Những bài giảng về quản lý trường học”… Các công trình trên thực sự là cẩm nang cho các nhà QLGD các cấp trong lý luận cũng như trong thực tiễn QLGD và quản lý nhà trường. Về quản lý nhà trường, các tác giả đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy học, từ đó chỉ ra một số biện pháp quản lý nhà trường.
Một trong số các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của quá trình quản lý để đi đúng mục tiêu, kế hoạch là các biện pháp thanh tra, KT và đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn cụ thể. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quá trình quản lý diễn ra qua năm giai đoạn: Chuẩn bị kế hoạch, xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra; trong đó, thanh tra, kiểm tra là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Thanh tra, kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo, việc xây dựng kế hoạch mới sẽ thuận lợi, kế thừa đƣợc mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện lệch lạc để uốn nắn loại trừ [25]. Tác giả Hà Sỹ Hồ cũng cho rằng: Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý và phân hệ được quản lý.
Ông khẳng định “Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu” [12]. Bênh cạnh đó, trong bài viết về “Vấn đề cơ bản về quản lí giáo dục”, tác giả Đặng Quốc Bảo xác định: Quản lí giáo dục có 4 chức năng cụ thể: Kế hoạch, chỉ huy, điều hành, kiểm tra, trong đó “kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu” [2]. Trong thời gian gần đây, có một số bài viết đăng trên Tạp chí thông tin QLGD, nội dung của lớp bồi dưỡng cán bộ thanh tra, cộng tác viên thanh tra giáo dục tại Học viện QLGD, các báo cáo về công tác thanh tra giáo dục của các lớp tập huấn, bồi dưỡng cán bộ thanh tra chuyên ngành.một tác giả cũng quan tâm đến một số vấn đề về công tác thanh tra giáo dục, nhưng chủ yếu đề cập đến các nội dung chung xung quanh hoạt động thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên đề, thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo. Bên cạnh đó, cũng có một số luận văn thạc sĩ QLGD cũng đã nghiên cứu về vấn đề này nhưng các đề tài nghiên cứu về công tác quản lí công tác KTNB ở các trường THCS ở những vùng khó khăn không nhiều.
Xuất phát từ tình hình đó, tôi thấy việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý công tác KTNB nhằm nâng cao chất 6 lượng giáo dục ở các trường phổ thông nói chung và các trường THCS vùng khó khăn nói riêng đến nay vẫn còn ít tác giả quan tâm. Hy vọng với đề tài luận văn sẽ có những đóng góp nhất định nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý công tác KTNB tại các trường THCS trên địa bàn huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam. Các khái niệm chính 1. Quản lý Ngay từ đầu sơ khai của sự phát triển nhân loại, con người đã sớm biết quy tụ nhau thành bầy, nhóm để tồn tại và phát triển.
Cũng vì sự sinh tồn của một bộ tộc, một bộ lạc nên dẫn đến sự hình thành các tổ chức. Nó liên kết con người cùng hoạt động với những mục tiêu, mục đích nhất định. Quá trình tạo ra của cải vật chất, tinh thần cũng như đảm bảo cuộc sống an toàn cho cộng đồng, xã hội ngày càng được thực hiện trên quy mô lớn hơn, với tính phức tạp ngày càng cao, đòi hỏi phải có sự phân công và hợp tác để liên kết những con người trong tổ chức này. Quản lý (QL) xuất hiện rất sớm từ đó.
QL là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. QL là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Khái niệm QL được định nghĩa với nhiều khái niệm khác nhau: F.W Taylor (1991) cho rằng: QL là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.Koontz (1993) thì khẳng định: quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm, tổ chức. Nhà Quản lý hành chính người Pháp là H.Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó.Fayon: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, phối hợp và kiểm tra” (Trích từ Nguyễn Thị Liên Diệp); Định nghĩa quản lý trong Từ điển Tiếng Việt: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [20]; Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Từ đó đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự tác động của tổ chức, có hưởng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu qủa nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [9] Theo quan điểm của tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong vỉệc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) mộtcách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.[14] Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo: “Dưới góc độ khái quát, quản lý là vạch ra mục tiêu cho một bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện tác động đến bộ máy để đạt được mục tiêu. Dưới góc độ kinh tế thì quản lý là tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực 7 nhằm đạt được mục tiêu tối ưu. Dưới góc độ chính trị-xã hội thì quản lý là sự kết hơp giữa tri thức và lao động. Dưới góc độ hành động thì QL là quá trình điều khiển của chủ thể quản lý tới đổi tượng quản lý để đạt được mục tiêu đề ra.