Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Một thành tựu lớn của cuộc cách mạng KHCN hiện nay là CNTT. Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong GD&ĐT, CNTT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn.
Việc áp dụng những công nghệ mới vào giáo dục trong đó có CNTT chính là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục. Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà quản lý giáo dục là làm thế nào để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học có hiệu quả? Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu các biện pháp quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục đã thực sự sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Ở các nước phát triển như Cộng hòa Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…đều sớm chú trọng đến việc ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Từ những năm 1972, ở Nhật Bản có xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000”.
Năm 1981, Singapore thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ. Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học. Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore. Ở Hàn Quốc, các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung.
Các dự án ứng dụng 7 CNTT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ Thúc Đẩy” CNTT do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý. Các nước này đã xây dựng rất nhiều chương trình quốc gia về tin học hóa. Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khóa để xây dựng và phát triển CNH, HĐH đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, từ năm 1994 Bộ GD&ĐT đã chủ trương đưa máy tính vào các nhà trường với mục đích dạy học Tin học và làm phương tiện dạy học các môn học khác.
Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định 153/QĐ-TTg năm 2018 của Thủ trướng Chính phủ. Các hội nghị, hội thảo về các đề tài nghiên cứu khoa học về CNTT và giáo dục đều có đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: - Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do viện CNTT - Đại học Quốc gia Hà Nội và khoa CNTT - Đại học Bách khoa Hà Nội phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. - Ngày 3/2/2018, Trường Đại học Đông Á cùng Hiệp hội cơ sở dữ liệu Hàn Quốc (KDBS), Hiệp hội Công nghệ thông tin và Quản lý quốc tế (IITAMS) đã đồng tổ chức Hội thảo quốc tế lần thứ 19 về “Ứng dụng CNTT và Quản lý”. - Ngày 22/12/2018, tại Đà Nẵng, Cục CNTT (Bộ GD&ĐT) tổ chức Hội thảo - tập huấn về “Tăng cường ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT”.
Ngày 25/01/2017 Chính phủ đã ký Quyết định số 117/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt 8 động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” với mục tiêu chung: “Tăng cường ứng dụng CNTT nhằm đẩy mạnh triển khai chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động quản lý điều hành của cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT ở Trung ương và các địa phương; đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học và công tác quản lý tại các cơ sở giáo dục đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng GD&ĐT” [22]. Về lĩnh vực quản lý giáo dục (QLGD), đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học, tiêu biểu như: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của HS THPT huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quãng Ngãi” của Phạm Văn Liên, Đại học Đà Nẵng, 2012; “Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THCS Ngô Tất Tố, quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Anh Tuấn, Đại học quốc gia Hà Nội, 2015; “Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” của Nguyễn Hải Dũng, Đại học Huế, năm 2016; “Ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thái Nguyên” của Bế Nhật Minh, Đại học Thái Nguyên, 2018. Như vậy, ứng dụng CNTT trong QLGD là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Nam hiện tại và tương lai. Gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung, trong QLGD nói riêng.
Các tác giả đều khẳng định ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học và vai trò quan trọng trong công tác quản lí mà người Hiệu trưởng áp dụng trong nhà trường. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học theo hướng phát triển NLTH cho HS. Đặc biệt, đến nay, trên địa bàn thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã áp dụng rất nhiều biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học theo hướng phát triển NLTH cho HS. Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý ứng 9 dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS theo hướng phát triển NLTH cho HS để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông lúc này đang rất cần thiết.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm năng lực, tự học, năng lực tự học a) Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Theo Barnett (1992): “Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn”.
Theo Từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [9]. Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên có thể định nghĩa như sau: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. b) Khái niệm tự học Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh 1 số lĩnh vực khoa học nhất định” [1, tr.
Nguyễn Cảnh Toàn nghiên cứu sâu về vấn đề tự học. Theo ông: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải dùng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [18, tr. Như vậy, các tác giả trên đều khẳng định hoạt động tự học đòi hỏi người học phải có tính tự giác, tính độc lập, thái độ học tập tích cực và có kỹ 10 năng tự học. Theo cách hiểu này, có thể cho rằng: Hoạt động tự học của HS được hiểu là hoạt động giải quyết các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của GV mà không giáp mặt thầy, nhằm đáp ứng các yêu cầu cao của việc học tập ở nhà trường.
c) Khái niệm năng lực tự học Trong quá trình nghiên cứu về NLTH các tác giả như: Linda Leach, Guglielmino, Candy, Taylor, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên, Trịnh Quốc Lập, Trần Bá Hoành … đã đưa ra các định nghĩa về khái niệm NLTH. Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất rằng NLTH không chỉ dừng ở mức độ chủ động thu nhận kiến thức, có thái độ và kỹ năng phù hợp mà còn nhấn mạnh vào khả năng vận dụng thực tế. Taylor đã xác nhận người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu, có kỹ năng hoạt động phù hợp. Thông qua mô hình trên tác giả đã phân tích ra có ba yếu tố cơ bản của người tự học, đó là thái độ, tính cách và kỹ năng.
Có thể nhận thấy, sự phân định đó để nhằm xác định rõ ràng những biểu hiện tư duy của bản thân và khả năng hoạt động trong thực tế chứ không đơn thuần chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lí của người học. Như vậy, có thể hiểu: NLTH là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập.