phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS THCS theo định hƣớng Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS các trƣờng THCS huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái theo định hƣớng Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS các trƣờng THCS huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái theo định hƣớng Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƢỚNG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài GDĐĐ là một trong những nội dung quan trọng của quá trình giáo dục hình thành và phát triển nhân cách của HS, đặc biệt trong tiến trình toàn cầu hỏa và hội nhập quốc tế hiện nay. Có thể kể đến một số hội thảo, công trình nghiên cứu tiêu biểu về GDPL trong thời gian gần đây nhƣ: Ở phƣơng Đông, Khổng Tử coi GDĐĐ là vị trí hàng đầu và quan niệm có tính hệ thống về phƣơng pháp giáo dục cũng nhƣ về tâm lý giáo dục. Ông cho rằng sự hiểu biết không phải bẩm sinh mà phải đƣợc hình thành qua quá trinh học tập, rèn luyện lâu dài, bền bỉ.
Qua nhiều năm giảng dạy cũng nhƣ nghiên cứu, Ông đã căn dặn HS rằng: Ở nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng nhƣờng nhịn các bậc huynh trƣởng, nên ít lời và đã nói thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi ngƣời. Các đức tính cần phải học tập rèn luyện thì mới có thể phát triển đúng hƣớng, ứng dụng hoàn hảo nhƣ nhân, trí, tin, trực, dũng, cƣơng [34]. Ở phƣơng Tây, Nhà triết học Socrate (470 - 399 TCN) coi tính thiện, đạo đức luôn là nguồn gốc của đạo đức con ngƣời, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con ngƣời sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức [20]. Tại Nhật bản thì đạo đức là môn học bắt buộc dành cho HS ở bậc tiểu học và trung học cơ sở.
Đạo đức không đơn thuần là một môn học mà còn đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ các khía cạnh trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Chƣơng trình GDĐĐ tại Nhật đƣợc xây dựng trên nền tảng pháp luật quốc gia với bộ tiêu chuẩn mà tất cả các trƣờng học từ công lập đến tƣ thục đều phải thực hiện. Trang đầu tiên cuốn sách đạo đức của HS Nhật Bản có một lời nhắn nhủ rất tâm huyết: "Bất kỳ đâu, bất kỳ khi nào, bao nhiêu lần đi nữa, các em hãy mở cuốn sách đạo đức, để suy nghĩ xem trong cuộc sống, 6 điều gì là quan trọng nhất đối với chúng ta và hãy phát huy nó trong đời sống của mình" [7]. Đạo đức có rất nhiều chức năng, trong đó tập trung ở ba chức năng cơ bản là chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục và chức năng nhận thức.
Các nghiên cứu trong nước Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm Lịch sử oai hùng. Trong quá trình đó đã hình thành và phát triển giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam trên nền tảng của truyền thống quá trình đấu tranh dựng nƣớc và bảo vệ, phát triển đất nƣớc. Theo Nguyễn Thế Kiệt, vai trò của các hệ tƣ tƣởng Phật giáo, Đạo giáo, đặc biệt là Nho giáo đã ảnh hƣởng đến đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam. Mỗi học thuyết tôn giáo đã giải thích đƣợc một khía cạnh của cuộc sống.
Do đó, tƣ tƣởng triết học đạo đức Việt Nam, giá trị đạo đức ƣu trội, cốt lõi trong các giá trị truyền thống dân tộc trở thành phẩm chất nhân cách đặc trƣng con ngƣời Việt Nam. Cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm chiếm nƣớc ta, nền giáo dục phong kiến bị thay đổi toàn bộ. Hệ thống giáo dục nhà trƣờng chú trọng đến nội dung giảng dạy kiến thức khoa học thực nghiệm, thực dụng nhằm đào tạo lớp ngƣời phục vụ cho lợi ích thực dân Pháp cho việc chinh phục thuộc địa. Sau cách mạng tháng tám (1945) và trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, nền giáo dục Việt nam với mục đích giáo dục con ngƣời phục vụ “Kháng chiến, kiến quốc” đã luôn gắn chặt hai mặt đức và tài trong mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ, trong đó lấy Đức làm gốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngƣời anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn của nhân loại đã để lại cho chúng ta một di sản văn hóa vô cùng quý báu trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Đặc biệt là vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức.
Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. 7 Theo Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức cơ bản của con ngƣời Việt Nam trong thời đại mới bao gồm: Một là, trung với nƣớc, hiếu với dân. Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ khái niệm cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phƣơng Đông, Hồ Chí Minh đƣa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nƣớc, hiếu với dân”.
Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức. Hai là, yêu thƣơng con ngƣời. Đây là một trong những phẩm chất đẹp nhất của con ngƣời Việt Nam. Tình thƣơng yêu con ngƣời đƣợc hình thành trong lịch sử và đã trở thành truyền thống của dân tộc.
Tình yêu thƣơng con ngƣời của Hồ Chí Minh là tình yêu thƣơng của ngƣời cộng sản. Không phải thuần túy là sự đồng cảm tâm lý, không phải sự thƣơng hại, sự xót xa của tình thƣơng tôn giáo. Tình yêu thƣơng ở đây là phải giải phóng con ngƣời, tạo cơ hội cho con ngƣời đƣợc phát triển hoàn toàn. Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tƣ.
Đây là phẩm chất chung của con ngƣời, là phẩm chất đạo đức mới, thể hiện mối quan hệ rộng lớn vƣợt qua khuôn khổ quốc gia, dân tộc. Bồi dƣỡng đạo đức cho con ngƣời Việt Nam là phải bồi dƣỡng tinh thần quốc tế trong sáng ở mỗi ngƣời [24]. Theo Hồ Chí Minh: đạo đức cách mạng không phải điều gì xa lạ mà thực chất đạo đức cách mạng đƣợc hình thành từ thực tiễn hoạt động rèn luyện hàng ngày trong công tác, chiến đấu của mỗi ngƣời. Thực chất của giáo dục đạo đức chính là hình thành ở con ngƣời đức tính tốt, lòng nhân ái, nổi trội ở đó là tinh thần yêu nƣớc, lòng trung thành đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân.
Mục tiêu của giáo dục đạo đức là nhằm loại bỏ những thói hƣ, tật xấu, tƣ tƣởng lạc hậu, trì trệ, sự ích kỷ cá nhân, tính vô nhân đạo. Vì theo Hồ Chí Minh: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho lòng tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi. Đó là thái độ của người cách mạng” [15].
8 Từ việc xác định rõ thực chất của vấn đề giáo dục đạo đức, xác định rõ mục tiêu của giáo dục đạo đức, Hồ Chí Minh đã nêu lên những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới: Nói đi đôi với làm, phải nêu gƣơng về đạo đức. Đây là nguyên tắc rèn để rèn luyện, là cơ sở để phân biệt đạo đức cách mạng với đạo đức không cách mạng. Phải tu dƣỡng đạo đức suốt đời. Đạo đức không phải là từ trên trời rơi xuống mà đƣợc đào tạo, rèn luyện bền bỉ hàng ngày để phát triển và củng cố: “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Đạo đức không thƣờng xuyên tu dƣỡng sẽ bị hoen ố. Đến năm 1979 Bộ chính trị và Trung ƣơng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ra nghị quyết vế cải cách giáo dục và Ủy ban cải cách giáo dục Trung ƣơng đã ra quyết định số 01 về cuộc vận động tăng cƣờng giáo dục đạo đức cách mạng trong trƣờng học, đã ghi rõ: “Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho HS từ mẫu giáo đến đại học, nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều bác Hồ dạy” [15]. Nghị quyết của hội nghị lần II của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá VII (1996) có nêu: “Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [15]. Trong hội nghị lần thứ II của Ban chấp hành trung ƣơng Đảng khóa VIII đã chỉ rõ “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con ngƣời, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững", xuất phát từ mục tiêu lấy con ngƣời là trung tâm trong giai đoạn phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Đảng ta đã chỉ đạo “Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện, đức dục, trí dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [14].
Trong Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 xác định 5 phẩm chất chủ yếu mà tất cả các môn học và hoạt động giáo dục đều phải góp phần giáo dục cho HS là: Yêu nƣớc, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực, Trách nhiệm. Mỗi môn học và hoạt động giáo dục góp phần khác nhau trong thực hiện yêu cầu cần đạt 9 trên. Trong đó GDĐĐ giữ vai trò chủ đạo trong việc giúp HS hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của ngƣời công dân, đặc biệt là tình cảm, niềm tin, nhận thức, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật, kĩ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.