phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng. Cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học tại Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học tại Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Đổi mới phƣơng pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính đột phá để nâng cao chất lƣợng dạy học.
Tuy nhiên, thực hiện đổi mới phƣơng pháp dạy học đòi hỏi phải đƣợc tiến hành một cách đồng bộ, tức là phải đổi mới từ nội dung chƣơng trình sách giáo khoa, phƣơng pháp dạy học cho đến kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh. Trong đó, nếu kiểm tra - đánh giá sai sẽ dẫn đến nhận định sai về chất lƣợng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vì vậy mà vấn đề kiểm tra - đánh giá trong giáo dục đã trở thành đề tài nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và tác giả trong nƣớc lẫn ngoài nƣớc. Dƣới đây, tác giả chia sẻ một vài công trình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài liên quan đến hoạt động kiểm tra – đánh giá trong giáo dục: Ebel (1956) đã mô tả chi tiết các phƣơng pháp dùng để đo lƣờng đánh giá định lƣợng kết quả học tập của học sinh.
Muốn đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh thì Robert cho rằng cần phải nắm rõ các phƣơng pháp đo lƣờng định lƣợng một cách chính xác và khoa học. Và cũng theo tác giả, nhiều trƣờng học đã vận dụng thành công các phƣơng pháp đo lƣờng theo hƣớng dẫn trong cuốn sách này. Norman (1965) giới thiệu những nguyên tắc và qui trình đánh giá cần thiết cho việc dạy học hiệu quả. Tác giả khẳng định rằng đối tƣợng của các đánh giá và đo lƣờng giáo dục chính là năng lực của ngƣời học.
Theo đó, nếu không thể đánh giá đƣợc các năng lực của ngƣời học thì hoạt động đánh giá chỉ có tính hình thức mà thôi. 9 Quentin và cộng sự (1967) cho rằng để đánh giá chính xác và khách quan về chất lƣợng giáo dục thì phải xây dựng công cụ kiểm tra – đo lƣờng. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đề xuất công cụ trắc nghiệm để kiểm tra – đo lƣờng. Yêu cầu đề sử dụng công cụ này là phải có kiến thức cơ bản về trắc nghiệm, có bốn lĩnh vực chung cần quan tâm là: (1) trắc nghệm dùng ở lớp học, (2) lý thuyết đo lƣờng, (3) các bài trắc nghiệm tiêu chu n hóa đã xuất bản, (4) những ứng dụng của trắc nghiệm.
Benjamin và cộng sự (1981) đã nghiên cứu về kĩ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh, bao gồm phƣơng pháp tiếp cận tổng kết, ch n đoán và hình thành và đánh giá các kĩ năng cụ thể. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả tập trung hƣớng tới việc hƣớng dẫn GV sử dụng đúng cách hệ thống các câu hỏi, các bài kiểm tra đánh giá quá trình học tập để đánh giá kết quả học tập của học sinh. Cuối cùng việc phối hợp các kĩ thuật đánh giá với nhau sẽ giúp GV viên sử dụng đánh giá nhƣ một công cụ để cải tiến cả qui trình dạy và học. Frith và cộng sự (1984) đã đề cập những lí luận cơ bản trong đánh giá trên lớp học, phƣơng pháp đánh giá bằng nhận xét và bằng điểm số, kĩ năng lập kế hoạch đánh giá học sinh của GV một cách rất cụ thể và chuyên sâu cho GV.
Elaine và cộng sự (1999) đã nghiên cứu về hệ thống đánh giá ở Singapore. Bài viết của nhóm tác giả trình bày một hồ sơ về hệ thống đánh giá của Singapore và cách thức hệ thống đánh giá bổ sung cho hệ thống giáo dục để nhận ra tiềm năng tối đa của nguồn nhân lực. Ngoài ra, bài viết còn mô tả về các kì thi quốc gia và các đánh giá dựa vào nhà trƣờng tại mỗi cột mốc trong hệ thống giáo dục, nhằm làm nổi bật các tính năng đặc biệt của đánh giá giáo dục ở Singapore. Palomba và cộng sự (2001) nghiên cứu lí thuyết chung về kiểm tra – đánh giá trên lớp học, đề cập các nội dung chính nhƣ: Làm thế nào các nhà kiểm định khuyến khích sự quan tâm đến việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên? Làm thế nào để giảng viên trong trƣờng phản ứng lại với những hành động của nhà kiểm định? Chúng ta có thể học hỏi đƣợc những gì từ các môn học đƣợc xác định kết quả học tập, thúc đ y việc lập kế hoạch cho việc đánh giá và nâng cao năng lực của sinh 10 viên? Trong cuốn sách này, nhóm tác giả xem xét về khái niệm quyền của sinh viên, đánh giá bối cảnh lịch sử - chính trị, việc thực hiện đánh giá gồm vai trò của giảng viên, chủ thể quản lý.
Yiannis (2006) đã chỉ ra rằng đánh giá trong lớp học đƣợc phát triển trong bốn bƣớc liên tiếp là thu thập bằng chứng, giải thích bằng chứng này, phản hồi của GV và cuối cùng là tác động phản hồi của giáo viên lên HS. Các bƣớc này cùng tạo nên một khung đánh giá. Phần thứ hai của bài báo là minh họa việc sử dụng khung đánh giá này trong thực tiễn ở các trƣờng tiểu học Hy Lạp. Từ các minh chứng thu thập đƣợc qua khảo sát bằng bảng hỏi và quan sát lớp học của các GV tiểu học Hy Lạp đã làm rõ các vấn đề phức tạp trong đánh giá trên lớp học.
Bài báo cũng chỉ ra cuộc khảo sát đã kiểm tra đƣợc chất lƣợng những nhận xét của giáo viên, từ ngữ đƣợc sử dụng để viết đánh giá, vai trò của việc cho điểm…. Những phát hiện nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo viên nhận thức đƣợc những ảnh hƣởng của việc đánh giá, vì vậy cần phải sử dụng nó đúng cách vì lợi ích của việc dạy và học. Mary (2009) đã đề xuất một số cách để hƣớng dẫn những GV trẻ thực hiện đánh giá học tập nhằm cải tiến và nâng cao chất lƣợng của hoạt động đánh giá trong dạy học. Bài viết đã chỉ ra các bƣớc cụ thể để CBQL giúp GV tránh đƣợc những sai sót phổ biến và trau dồi kĩ năng của họ trong việc sử dụng các bài kiểm tra – đánh giá đúng đắn nhằm cải thiện các phƣơng pháp kiểm tra – đánh giá.
Putcharee (2012) đã thực hiện một nghiên cứu về đánh giá trên lớp đối với môn Toán. Theo tác giả của bài báo thì đây là một trong những công cụ giáo dục thiết yếu nhất của GV. Khi đƣợc phát triển và diễn giải đúng cách, việc đánh giá có thể giúp GV hiểu rõ hơn về quá trình học tập của HS. Tuy nhiên, ở Thái Lan không có một hệ thống đánh giá trên lớp học đối với môn Toán.
Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là phát triển hệ thống đánh giá trên lớp học đối với môn Toán dựa trên chƣơng trình giáo dục phổ thông năm 2008, tiếp cận nghiên cứu hành động và đánh giá hệ thống. Nghiên cứu đƣợc thực hiện theo hai bƣớc, bƣớc một là thu thập dữ liệu cơ bản và phát triển hệ thống, và bƣớc 2 là ý kiến của các chuyên gia về hệ thống đánh giá. Hệ thống đánh giá có bốn tiêu chu n bao gồm tính tiện ích, tính khả 11 thi, tính độc quyền và độ chính xác. Các kết quả của nghiên cứu này cho thấy hệ thống đánh giá trên lớp đối với môn Toán đã đƣợc phát triển, nó bao gồm nghiên cứu hành động với bốn hệ thống phụ (đầu vào, quy trình, đầu ra và kết quả).
Mỗi hệ thống con cũng có bốn bƣớc hoạt động nhƣ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, quan sát và phản hồi. Các chuyên gia đánh cao giá các tiêu chu n đánh giá. Hơn nữa, hệ thống đánh giá đƣợc thiết kế để trở thành một phần của hƣớng dẫn trên lớp học bình thƣờng. Lorna (2013) cho rằng đánh giá việc học tập xảy ra trong suốt quá trình học tập để thông báo việc học trái ngƣợc với đánh giá tổng kết (summative assessment) xảy ra vào cuối đơn vị học tập để đo lƣờng những gì học sinh đã học.
Trong khi đó, đánh giá quá trình (formative assessment) lại nhấn mạnh vào vai trò của học sinh - là ngƣời đóng góp cho quá trình đánh giá và học tập và còn là sự gắn kết quan trọng giữa đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết. Tác giả còn nhấn mạnh rằng sử dụng đánh giá quá trình để thúc đ y việc học của HS, giúp HS kết nối chuyển từ bỡ ngỡ sang thành thạo, mở rộng kiến thức và giúp HS tự điều chỉnh phản xạ về việc học của chính mình. Trong nghiên cứu này, Lorna nhấn mạnh về đánh giá quá trình và hƣớng dẫn cho GV cách để thay đổi, chuyển sang đánh giá quá trình. Veldhuis và cộng sự (2013) đã thực hiện một cuộc khảo sát về thực trạng đánh giá môn Toán trên lớp học của GV tiểu học ở Hà Lan.
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng bảng câu hỏi trực tuyến để điều tra cách GV thu thập thông tin về sự tiến bộ của học sinh; phƣơng pháp và mục đích đánh giá của GV nhƣ thế nào. Kết quả thu đƣợc 960 ý kiến trả lời bảng hỏi từ giáo viên tại 557 trƣờng tiểu học Hà Lan. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đánh giá bằng phƣơng pháp quan sát đƣợc sử dụng thƣờng xuyên nhất, nó đƣợc áp dụng hàng tuần, quan sát để đặt câu hỏi, quan sát để sửa chữa sai sót. Trong khi đó đánh giá dựa trên công cụ nhƣ các bài kiểm tra theo sách giáo khoa và các kiểm tra với mục đích giám sát HS đƣợc sử dụng nhiều lần trong năm.
Teo GV Hà Lan, họ sử dụng đánh giá chủ yếu là cho quá trình học tập của HS và xem các phƣơng pháp đánh giá mà mình lựa chọn sử dụng là phù hợp nhất. 12 Xiaoyan và cộng sự (2016) đã nghiên cứu việc sử dụng các kĩ thuật đánh giá lớp học (CATs) của GV toán tiểu học ở Trung Quốc.