Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CONG TAC QUAN LÝ HỌC SINH CUA DOI NGŨ GIÁM THỊ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu van đề Trước 1975, nước ta có hai hệ thống giáo dục khác nhau. Ở miễn Bắc, giáo dục được tổ chức chủ yếu theo mô hình của Liên X6 cũ với hệ thong giảo dục mười năm. Ở miễn Nam, giáo dục được tổ chức theo m6 hình phương Tây chủ yếu theo mô hình của Pháp va một phan được cải tiễn theo mô hình của Mỹ.
Ở giai đoạn nảy, hệ thông trường học được mở khắp nơi từ thôn, xã đến nhiều huyện, tỉnh. Phan lớn trường học là cơ sở công lập, được chia ra nhiều lớp và mỗi lớp có hơn bốn mươi học sinh. Cho nên, các trường luôn được chính quyền tuyển dụng va bé nhiệm hiệu trưởng, giám thị va thay giáo đến dé dạy học sinh, trông coi sinh hoạt và quản lí học sinh ở trường. [8, trl81] Ngay từ những năm sau 1975, đất nước phải đỗi diện với những hậu quả nặng né do chiến tranh dé lại, toan dân ra sức xây dựng chính quyển thông nhất và khôi phục kinh tế, văn hỏa.
Những khó khăn về kinh tế xã hội đã tác động trực tiếp đến nên giáo dục của nước ta, dẫn đến sự xuống cấp của hệ thong nha trường, quy mô giáo duc giảm sút, số học sinh đến trường chững lại hoặc giảm đi, tỉ lệ học sinh bỏ học nhiều. Đời sống của giáo viên hết sức khó khăn, thiểu thốn. Các trường học ở giai đoạn này cũng không có nhu cầu tuyển dụng thêm các giáo viên. Hiện tượng giáo viên phô thông bỏ nghề ngày cảng tăng.
Vì vậy lực lượng giảm thị ở giai đoạn nay là không can thiết va it được tuyên dụng ở các trường phố thông. [8, tr203] Đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và xã hội, hệ thông giáo dục Việt Nam đã đa dạng hóa vẻ loại hình, phương thức và nguồn lực, từng bước hòa nhập với xu thé chung của giáo dục thé giới. Trước sự đa dạng hóa ve các loại hình trường học va dé đạt được mục tiêu giáo dục trong công tác quản lí cũng như giảng dạy, các trường đã tăng cường, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ giáo viên. Trong đó không thê thiếu đội ngũ giảm thị, một trong những bộ phận hỗ trợ rất nhiêu cho giáo viên chủ nhiệm và nhà trường trong việc theo dõi quản lý học sinh.
Phần lớn các trường tự tuyển dụng va chủ động dé xuất chức danh giám thị nên đội ngũ giảm thị trường học còn mang tinh chat tự phat. Trước yêu cau thực tế, các trường đã tự soạn ra quy định tạm thời về nhiệm vụ, quyền hạn của công tác giám thị trong nhà trường pho thông va phân lớn giám thị là các giáo viên đương nhiệm hoặc hiệu phó lao động đã thai chức hay một nhẫn viên ở quận giảm biên về trưởng. Tuy nhiên vị trí chức nang, vai trò nhiệm vụ của giám thị chưa được các cơ quan các cấp nghiên cứu thấu đáo mặc dù công việc quan trọng. Dé quản li công tác giám thi, đòi hỏi Hiệu trưởng nha trường dựa vào các văn ban qui định của ngành va vận dụng hiểu biết của minh trong công tác giáo dục, dé quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của giám thị, khi chưa có van bản hướng dẫn công tác giám thị.
Và đây cũng là cơ sở dé giám thị phát huy vai trò và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và quyên hạn của minh tại trường học. Công tác giám thị đã được triển khai nhiều năm nhưng chỉ được quy định trong một số văn bản nội hộ. Nhưng, cho đến nay, Bộ Giáo dục và Đảo tạo vẫn chưa xác định chức danh giám thị trong khung biên chế trường học, chế độ đãi ngộ đối với người làm công tác giám thị cũng không rõ rang, việc tuyển dụng người vào làm công tác này vì thế gặp nhiều khó khăn. Việc nghiên cứu về công tác giám thị chỉ giới hạn ở những bai bao, thông tin trên mạng.
Va gan đây nhất, công tác của người giảm thị đã được Tiên sĩ Nguyễn Thị Bich Hồng (Giảng viên Khoa Tâm lý giáo dục - DH Sư phạm TP.HCM) nghiên cứu trong đẻ tai “Thực trang nang lực đội ngũ giảm thị trường trung học pho thông tại thanh pho Hỗ Chi Minh”. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.1, Quản lý Quản ly la một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp vả luôn vận động, bien đổi, phát triển. Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận va quan niệm khác nhau.
Sau đây là một số khái niệm tiêu biểu: Theo từ điển Tiếng Việt căn bản: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Taylor: “Quan lý là biết được chính xác điều bạn muon người khác lam, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoan thành công việc một cách tốt nhất vả rẻ nhất ”, [13, tr.Taylor nhắn mạnh quản lý trên phương diện mục tiêu của quản lý. Hoạt động quản lý chỉ diễn ra khi bạn biết chính xác các hành động đó diễn ra nhằm đạt mục đích gì? Và nó được thực hiện như thể nảo? Trong tác phẩm Các Mác va Anghen; Toản tập, NXB Chính trị quốc gia 1995 Mác đã phát biểu: “Tat cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nao tiễn hành trên quy mô tương đổi lớn thì it nhiều cũng can tới sự lãnh đạo” [2, tr. Như vậy Mac vi vai trò lãnh đạo như cai đường ray đảm bảo cho đoàn tau đi đúng hướng.
Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yêu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cả nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nha quản lý là nhằm hình thành một môi trường mả trong đỏ con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tien bạc, vat chất va sự bat mãn của cá nhân it nhất”.33] Theo các nha Tâm ly học: “Quan lý là hoạt động đặc biệt của con người trong xã hội, một hoạt động rat phức tạp và đa dạng. Đỏ là sự tác động toan diện vào một nhóm người, một tập thể người, điều khiển họ hoạt động nhằm đạt tới mục đích nhất định đã được dé ra từ trước”.39] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.14] Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quả trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thong nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu nảy đặc trưng cho trạng thai mới của hệ thong mà người quản lý mong muốn”. Hai tác giả đã dé cao vai trò của người lam công tác quản lý. Đây là quá trình định hướng cho cả hệ thống được quản lý đi theo mục tiêu đã đề ra trước đó. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tai lực) trong và ngoài tô chức (chủ téu là nội lực) một cách tôi uu nhằm đạt mục dich của tổ chức với hiệu qua cao nhất”.15] Qua cách hiểu trên thì hoạt động quản lý có sự hiện diện của các yếu ta: - Chủ thể quản lý: Là tác nhãn tạo ra các hoạt động quản lý.
Chủ thé luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thé quản lý tác động lên doi tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. - Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ the quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau ma người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau, - Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay nhiều sự điều chỉnh từ chủ thé quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội.
- Mục tiêu quản lý: La cái đích cần đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản ly cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Khi xem xét hoạt động quản lý trong mỗi quan hệ gữa chủ thể quản lý và khách thé quản ly, chúng ta có thé mô hình hóa hoạt động quản lý như Sau: Từ những khái niệm trên chúng ta có thé nói: lũ Quản lý là sự tác động có chủ định của nhà quản lý tới những đổi tượng được quản lý nhằm định hướng, điều tiết các hoạt động của đổi tượng đó để đạt được mục tiêu một cách tôi ưu nhất. Quản ly là hoạt động có y thức của con người nhằm định hướng, to chức, sử dụng các nguồn lực va phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả Như vậy, khái niệm quản lý có thể được hiểu: Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thé quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.
Quản lý giáo duc Hình thức quản lý giáo dục đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, tùy vào mỗi hình thái xã hội nhất định mà khái niệm này được biểu đạt dưới các hình thức khác nhau. Dù biểu hiện ở dạng nao thì cau trúc của quản lý giáo dục cũng gồm 3 thành phần chính sau: chủ thể quản lý, đỗi tượng quản lý, mục tiêu quản lý. Trong đó chủ thể quản lý đóng vai trò quyết định đến hai yếu tổ còn lại. Trong quá trình quản lý chủ thể luôn luôn tác động lên đối tượng nhằm điều chỉnh mục tiêu quản lý cho phù hợp với mục đích ban đầu đã dé ra.
Quản lý giáo dục cũng như quản lý xã hội là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyển ngành, được nghiên cứu trên nên tảng của khoa học quản lý nói chung. Giống như khái niệm “quản lý” đã trình bay ở trên, khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Xét ở cấp vĩ mô, cấp quản lý một nén/hé thông giáo dục: Theo D.