phần mở đầu, kết luận và khái niệm đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở các trƣờng mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở các trƣờng mầm non thành phố Thái Nguyên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi ở các trƣờng mầm non thành phố Thái Nguyên. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 TUỔI Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Ngôn ngữ là chức năng tâm lý cấp cao của con ngƣời, là công cụ để tƣ duy, để giao tiếp, là chìa khoá để con ngƣời nhận thức và chiếm lĩnh kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại. Với mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra cực kỳ nhanh ở giai đoạn từ 0 - 6 tuổi (lứa tuổi mầm non). Từ chỗ sinh ra chƣa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời ngƣời - trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày. Đây chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ.
Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sù phát triển ngôn ngữ thì sau này khó có thể phát triển tốt đƣợc. Chính vì vậy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của trẻ trƣớc tuổi học là vấn đề đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nƣớc quan tâm nghiên cứu. * Trên thế giới: Vấn đề ngôn ngữ đã đƣợc đề cập đến ngay từ thời cổ đại. Nhƣng thời cổ đại ngƣời ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và lôgíc học.
Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ nhƣ là một hình thức biểu hiện bề ngoài của các bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con ngƣời. Trong cuốn "Triết học DESCARTES" Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con ngƣời, khác với động vật. Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tƣ duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật". Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hƣớng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học.
Ngƣời đầu tiên sáng lập ra trƣờng phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823 - 1899). Ông đã đƣa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc. Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc [14]. Sau cách mạng tháng Mƣời Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết đã vận dụng quan điểm của Mac - Lênin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ đó là: xem xét ngôn ngữ với tƣ cách là một hiện tƣợng xã hội.
Ngôn ngữ thể hiện các mối 6 quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời đƣợc quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tƣ duy và là phƣơng tiện giao tiếp chủ yếu của con ngƣời [30]. Với quan điểm này có thể kể đến: L. Họ đã đi vào nghiên cứu tính chất xã hội của ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy, sù phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ… L.
Vƣgotxki trong cuốn: " Tư duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con ngƣời chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ là của cá thể. Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của ngƣời lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những ngƣời này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tƣ duy trong mét xã hội nhất định đƣợc chuyển giao sang trẻ. Do ngôn ngữ là phƣơng thức đầu tiên mà qua đó, con ngƣời trao đổi các giá trị xã hội, L.
Vƣgotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tƣ duy. Leusina đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo và đi đến kết luận: Không phải là từ mà là câu và ngôn ngữ mạch lạc là đơn vị của ngôn ngữ nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp. Trẻ càng lớn tính hoàn cảnh của ngôn ngữ càng giảm dần chuyển sang hình thức nói mạch lạc gắn chặt với sự lĩnh hội của vốn từ, lĩnh hội hệ thống ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ [7, Tr. Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp… Phát triển vốn từ cũng nhƣ việc nắm vững các hình thức ngữ pháp đã ảnh hƣởng đến lời nói mạch lạc ở từng thời điểm nhất định.
* Ở Việt Nam: Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) cũng đƣợc rất nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm và tiếp cận sâu ở từng góc độ khác nhau trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Có thể kể đến các xu hƣớng nghiên cứu sau: Vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp… của trẻ em ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu của Dƣơng Diệu Hoa (1985), Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989) v. v… Chẳng hạn Lƣu Thị Lan (1996) trong công trình nghiên cứu "Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em tõ 1 - 6 tuổi" [26] đã chỉ rõ các bƣớc phát triển về ngữ âm của trẻ em Việt nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 - 1 tuổi) giai đoạn ngôn ngữ (1 - 6 tuổi), về mặt ngữ âm có những bƣớc tiến dài đặc biệt là giai đoạn 7 4 - 6 tuổi. Các bƣớc phát triển về từ vùng đƣợc tác giả thống kê từng lứa tuổi với số lƣợng từ tối thiểu và số lƣợng từ tối đa.
Từ 18 tháng tuổi trở đi trẻ có sự nhảy vọt về số lƣợng từ và yếu tố văn hoá, xã hội ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển vốn từ của trẻ. Các bƣớc phát triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam đƣợc tác giả nghiên cứu rất cụ thể từng lứa tuổi với loại câu đơn, câu phức, các loại câu phức nhƣ câu phức chính phụ, câu phức đẳng lập. Câu phức chính phụ xuất hiện muộn và có số lƣợng ít hơn.Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ trẻ em đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau. Có nghiên cứu về cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ, có nghiên cứu về yếu tố ảnh hƣởng tác động đến quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ, một số nghiên cứu khác lại nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ… Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu mới tập trung nhiều vào lứa tuổi nhà trẻ, Ít đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ của lứa tuổi 5 - 6 tuổi.
Trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi chủ yếu đi sâu nghiên cứu vào một mặt của sự phát triển ngôn ngữ nhƣ hiểu từ hoặc ngôn ngữ mạch lạc… Trong ngôn ngữ mạch lạc thì lại chủ yếu đi vào nghiên cứu biện pháp hình thành và phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Nhiều ngƣời rất quan tâm đến việc chuẩn bị cho trẻ Mẫu giáo học đọc và viết ở lớp 1(Tức là quan tâm đến làm quen với chữ cái của trẻ 5 tuổi). Ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi là một điều kiện hết sức quan trọng để trẻ tiếp xúc với môi trƣờng mới lạ ở phổ thông, giúp trẻ lĩnh hội đƣợc những kiến thức mang tính chất khoa học của các môn học ở phổ thông… Vì vậy việc nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ cả về vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp, ngôn ngữ mạch lạc là rất cần thiết. Thông qua đó, chúng ta có thể giúp trẻ có sự phát triển ngôn ngữ một cách đầy đủ về các mặt, đó cũng là phƣơng tiện cơ bản nhất, quan trọng nhất để trẻ tiếp thu tri thức không chỉ môn Tiếng Việt mà còn tất cả các môn học khác của chƣơng trình lớp 1.
Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở lớp 1. Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 1. Khái niệm về ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phƣơng tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng ngƣời. Ngôn ngữ đồng thời là phƣơng tiện phát triển tƣ duy, truyền đạt truyền thông văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành những con ngƣời phát triển toàn diện. Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy 8 nghĩ và là công cụ của tƣ duy. Trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh. Trong quá trình nhận thức hiện tƣợng sự vật, trẻ phải dùng lời nói để nói lên những suy nghĩ, cũng nhƣ cảm tƣởng của mình về những vấn đề đó.[17] Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và là công cụ tƣ duy của con ngƣời, Ngôn ngữ học có khía cạnh tâm lý học, ngôn ngữ có vai trò nhiều nhân tố: xã hội, tâm lý, dân tộc. Ngôn ngữ học tâm lý nghiên cứu những mối quan hệ qua lại giữa nhân cách với cấu trúc chức năng của hd ngôn ngữ. Về một khía cạnh khá giữa nhân cách với ngôn ngữ nhƣ yếu tố cấu thành hình thành thế giới của con ngƣời. Qua nghiên cứu ngôn ngữ tâm lý học sẽ thấy đƣợc đặc điểm tâm lý của một cộng đồng bản ngữ, và qua đó sẽ thấy đƣợc “trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ tự nhiên đều hàm chứa một cách nhìn thế giới của mỗi cộng đồng bản ngữ đó đối với sự vật hiện tƣợng xung quanh họ”.