Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của lƣu ho ̣c sinh Chương 2: Thƣ̣c tra ̣ng quản lý hoạt động tự học của lƣu học sinh nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Chương 3: Các giải pháp quản lý hoạt động tự học của lƣu học sinh nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA LƢU HỌC SINH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước 1. Các nghiên cứu về hoạt động tự học Trong lịch sử giáo dục, tự học là một vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm.
Song, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, tự học đƣợc đề cập dƣới các góc độ và hình thức khác nhau. Các tác giả đã làm rõ vai trò của HĐTH, tự nghiên cứu tìm tòi, khám phá của bản thân ngƣời học, đó là cơ sở cho mọi sự thành công trong học tập. Cách đây hàng ngàn năm trƣớc công nguyên các nhà triết học, các nhà giáo dục vĩ đại ở phƣơng Tây đã khẳng định vai trò của giáo dục, tự học, tự rèn luyện tri thức nhƣ Heraclitus (530-475 TCN); Socrate (470-399 TCN); Theo Platon (427-384 TCN)… Theo các nhà tƣ tƣởng này thì giáo dục sẽ là ngọn đuốc soi sáng để con ngƣời có thể tự nhận ra con đƣờng của mình tự bƣớc đi trên con đƣờng đó. Giáo dục cũng giúp con ngƣời tự nhận ra mình ở giữa đám đông mà không tách biệt mình ra khỏi đám đông hay xã hội.
Hơn nữa họ cũng khẳng định rằng mọi ngƣời đều phải học và học đến nơi đến chốn. Đặc biệt là ngƣời thầy, để dạy ngƣời, thì phải đƣợc giáo dục đến nơi đến chốn. Để làm đƣợc nhƣ vậy, ở thời cổ đại con đƣờng chủ yếu vẫn là tự học, tự học thƣờng xuyên, tự học lâu dài. Cùng thời gian đó, các nhà triết học, tƣ tƣởng lớn phƣơng Đông nhƣ Mă ̣c Tử (475-390 TCN) và ông đã phân biệt ba loại tri thức: Thân tri, văn tri, trí tri, thì ngoài văn tri - nghe mà biết, còn thân tri - tự nhận biết và trí tri - tự suy luận mà biết đều do tự chiêm nghiệm, tức là do tự học vậy.
12 Thời cận đại, nhà sƣ phạm lỗi lạc ngƣời Tiệp Khắc J. Komensky (1592-1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng”. Năm 1657, ông đã hoàn thành tác phẩm “Khoa Sư phạm vĩ đại” trong đó nêu rõ: “Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ” [136]. Ở thế kỷ XVIII-XIX, các nhà giáo dục lỗi lạc nhƣ Jan Jac Rousseau (1712-1778), J.Usinxki (1824-1870) đã đi sâu nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của ngƣời học trong dạy học.
Các tác giả trên đã cho rằng đây chính là cơ sở duy nhất để sự học có hiệu quả. Vì thế, cần giáo dục cho học sinh khả năng định hƣớng trong môi trƣờng xung quanh, biết hoạt động một cách linh hoạt, sáng tạo, biết tự mình nâng cao kiến thức để phát triển bản thân một cách tốt nhất, phải định hƣớng ngƣời học suy nghĩ, tìm tòi trong quá trình dạy học của mình. Các nhà giáo dục lỗi lạc khi xây dựng quan điểm dạy học cũng cho rằng cần hƣớng cho học sinh tự nắm lấy kiến thức bằng cách tự tìm hiểu, tự khám phá, tự tìm tòi và sáng tạo.Rubakin: “Tự học là một quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, hoạt động lý luận và thực tiễn của cá nhân. Bằng cách thiết lập các quan hệ mới cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu các mô hình phản ánh hoàn cảnh hiện tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể” [146].
Tự học là quá trình bản thân ngƣời học độc lập, tự giác chiếm lĩnh tri thức, tích cực tìm tòi, phân tích sách vở, tài liệu tham khảo bằng những phƣơng pháp phù hợp trên cơ sở hƣớng dẫn của giáo viên. Nhiều nhà giáo dục ở châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học của học sinh. Nhà sƣ phạm nổi tiếng ngƣời Nhật, ông T.Makiguchi đã trình bày 13 những tƣ tƣởng giáo dục mới trong tác phẩm“Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” [139]. Ông cho rằng, giáo dục có thể coi là quá trình hƣớng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích ngƣời học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng.
Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” [143] đã đƣa ra quan điểm về quá trình“Nhận biết dạy-học”. Theo ông ngƣời học phải là ngƣời tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy-học” và “Sự học tập do người học chủ đạo”. Các nhà giáo dục hiện đại đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục cũng đã khẳng định vai trò to lớn của HĐTH. Phát triển tƣ tƣởng từ quan điểm của các nhà giáo dục tiền bối, họ đã chỉ ra một số yếu tố quan trọng (nhƣ N.Rubakin, Smit Hecbéc) nhấn mạnh việc quan tâm giáo dục động cơ hoạt động đúng đắn là điều kiện để học sinh tích cực, chủ động trong học tập.
Để giúp ngƣời học nâng cao tính tích cực nhận thức và đạt hiệu quả trong HĐTH, các tác giả (A.Petrovski) đã đề ra trong việc thiết kế các bài tập nhận thức, nhất là bài tập nêu vấn đề để học sinh thực hiện trong thời gian tự học đó là trách nhiệm của ngƣời giáo viên. Cuối thế kỷ XX, quan niệm về học tập suốt đời đƣợc coi là chìa khóa mở cửa vào thế kỷ XXI. Theo khuyến cáo về “Giáo dục cho thế kỷ XXI”, UNESCO đã nêu bốn trụ cột về giáo dục, đó là: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người” [148]. Trong tác phẩm “Phương pháp dạy và học đại học” [135] của Garry Hess & Steven Friedland, Lê Nết (biên dịch) đã chỉ ra bản chất học hỏi của ngƣời lớn có yếu tố tự giác.
Họ có động cơ học tập rõ ràng và sẵn sàng tham gia vào nhiều phƣơng thức đào tạo. Nhằm tổ chức có hiệu quả HĐTH của ngƣời học, các tác giả còn phân tích rõ vai trò của nhà trƣờng và của ngƣời thầy trong việc tổ chức và bồi 14 dƣỡng kỹ năng tự học cho ngƣời học. Theo các tác giả, một biện pháp quan trọng để nâng cao tính tích cực và hiệu quả HĐTH của sinh viên chính là các bài tập nhận thức mà sinh viên thực hiện trong thời gian tự học. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động tự học Năm 1971, tác giả A.
Goroxepxki đã viết cuốn “Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học” [132] trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm công tác cá nhân của mình trong các trƣờng đại học đối với việc tổ chức tự học cho sinh viên. Tác giả đã đƣa ra đề nghị về phƣơng pháp học tập của sinh viên đại học trên một số vấn đề cơ bản: Nghe và ghi bài giảng; đọc và ghi tài liệu; chuẩn bị Seminar (là một dạng hội thảo, nghiên cứu chuyên đề, có thể hiểu đơn giản là một hình thức học tập mà trong đó ngƣời học chủ động hoàn toàn từ khâu chuẩn bị tài liệu, trình bày nội dung đƣa dẫn chứng, trao đổi, thảo luận với các thành viên khác và cuối cùng tự rút ra nội dung bài học hay vấn đề khoa học cũng nhƣ đề xuất các ý kiến để mở rộng nội dung); làm bài tập nghiên cứu và luận văn tốt nghiệp; chuẩn bị kiểm tra và thi; tổ chức lao động trí óc và kế hoạch làm việc. Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, R.Retzke đã chủ biên cuốn sách “Học tập hợp lý” [144] đề cập đến vấn đề bồi dƣỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học mới đƣợc tuyển vào hệ tập trung của các trƣờng đại học. Cuốn sách nhấn mạnh: “Học tập ở đại học là một quá trình phát triển con ngƣời, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố và việc hoàn thành có kết quả những nhiệm vụ học tập đòi hỏi phải đấu tranh với bản thân và tập thể một cách có phê phán và đầy sáng tạo trong quá trình học tập”.
Cuốn sách gợi hƣớng giải quyết cho sinh viên từ các vấn đề khúc mắc trong tâm tƣ của mình đối với nhiệm vụ học tập đến những điểm có tính chất quyết định đối với việc học tập ở đại học trên con đƣờng dẫn đến thành công.Sharma và Shakti R.Ahmed trong tác phẩm “Phương pháp dạy học ở đại học” [145] đã nghiên cứu HĐTH nhƣ là một 15 phƣơng pháp dạy học hiệu quả - phƣơng pháp tự học. Theo các tác giả, trƣớc tiên ngƣời giáo viên phải lồng ghép phƣơng pháp này vào công việc của chính mình, sau đó phải tìm ra một phƣơng thức hoạt động nhằm khuyến khích sinh viên của mình tự học. Phƣơng pháp này có thể thực hiện đƣợc trong các nội dung bài giảng khác nhau theo những hình thức khác nhau, và ở trình độ tổng quát nhất, phƣơng pháp này có thể đƣợc hình dung nhƣ một quá trình gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Ngƣời giáo viên phải thiết kế bài tập; cung cấp các nguồn tài liệu cần thiết cho bài tập; chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng cho học viên những gì học viên phải làm. Giai đoạn 2: Học viên tự làm bài tập với sự hỗ trợ của những thông tin có sẵn.
Giai đoạn 3: Học viên nộp bài tập đã hoàn thành , giáo viên kiểm tra dựa trên một số tiêu chuẩn nhất định. Như vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục thế giới về tự học, chúng tôi nhận thấy: Tự học và quản lý HĐTH có một ý nghĩa vô cùng cần thiết, ảnh hƣởng to lớn và trực tiếp tới việc học của ngƣời học trong quá trình dạy học, đặc biệt tự học là yếu tố quyết định cho xu hƣớng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại. Các nghiên cứu trong nước 1. Các nghiên cứu về hoạt động tự học 1.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về tự học Hồ Chí Minh là lãnh tụ kiệt xuất, là nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Ngƣời đã để lại cho chúng ta nhiều lời khuyên về tự học.