Mở đầu: Lý do chọn đề tài; Mục đích nghiên cứu; Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu; Giả thuyết khoa học; Nhiệm vụ nghiên cứu; Phƣơng pháp nghiên cứu; Phạm vi nghiên cứu; Cấu trúc của luận văn. - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐTN cho HS ở trƣờng TH. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý HĐTN cho HS ở các trƣờng TH huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định - Chƣơng 3: Biện pháp quản lý HĐTN cho HS ở các trƣờng TH huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định - et luận và khuyen nghị - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. hái quát lịch sử nghiên c u vấn đề 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới Từ thuở sơ khai, nền văn minh của loài ngƣời dần đƣợc duy trì và phát triển nhờ vào kiến thức thu đƣợc từ thực tiễn trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày. Tƣ tƣởng giáo dục về học qua trải nghiệm cũng vì thế mà hình thành từ rất sớm. Aristotle (384- 322 TCN) cho rằng: “những điều chúng ta học trƣớc rồi mới làm, chúng ta học thông qua làm việc đó.” Song, nó chỉ thực sự phát triển và trở thành một tƣ tƣởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi có những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học nổi tiếng trên thế giới. Từ cuối thế kỉ XIX, xuất hiện mô hình dạy học trải nghiệm đầu tiên trên thế giới là mô hình về nghiên cứu ứng dụng và đào tạo thực nghiệm của nhà tâm lí học Kurt Lewin.
Ông nhấn mạnh tới sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. Với Lewin, ông chủ trƣơng sử dụng “những kinh nghiệm rời rạc” (cách diễn đạt của Kurt Lewin) của cá nhân để “ đánh giá thử” các khái niệm trừu tƣợng sau đó chia sẻ về giá trị hoặc tính ứng dụng của chúng để thu nhận các thông tin phản hồi. Tính liên tục phát triển của nhận thức đƣợc đáp ứng là nhờ vào các hoạt động phản hồi. Lewin đã từng kết luận, những thất lại trong học tập là do thiếu vắng các phản hồi.
HĐTN đƣợc biết đến với tƣ cách là một quan điểm giáo dục do David Kolb (1939) đề xuất. Năm 1970, ông cùng Ron Fry phát triển lý thuyết trải nghiệm và năm 1984 ông xuất bản mô hình học tập, gây đƣợc sự chú ý cũng nhƣ tạo thêm nhiều cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu. Trong thực tế, tƣ tƣởng này đã đƣợc khơi nguồn trong các nghiên cứu về mô hình học tập của Jonh Deway, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, William James… và ông đã chịu ảnh hƣởng chủ yếu từ Jonh Deway, Kurt Lewin, Jean Piaget. Từ việc kế thừa những ý tƣởng cơ bản, D.
Kolb đã hoàn thiện lý thuyết về học tập trải nghiệm với những đặc điểm nổi bật: Thứ nhất: Học tập đƣợc tiếp nhận 6 tốt nhất là trong quá trình chứ không phải là kết quả. Thứ hai: Học tập là một quá trình liên tục đƣợc khởi nguồn từ kinh nghiệm. Thứ ba: Quá trình học tập đòi hỏi giải pháp cho những sự xung đột về sự thích nghi của các phƣơng thức đối lập biện chứng về thế giới. Thứ tư: Học tập bao gồm các tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng.
Thứ năm: Học tập là quá trình tạo ra tri thức, là kết quả của các giao dịch giữa các kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân. [Dẫn theo 12] Từ những năm 60-70, các nhà Tâm lý học Xô viết cũng chú ý nhiều đến kỹ năng tổ chức hoạt động. Đó là các nghiên cứu của N. Tài liệu “Những nguyên lý của công tác tổ chức” của P.Kecgientxev đã nghiên cứu về công tác tổ chức ở mức độ khái quát nhất.
Trong tài liệu, ông đã nêu lên cụ thể 7 yếu tố cơ bản của công tác tổ chức và đến nay vẫn đƣợc coi là những yếu tố nền tảng trong việc tổ chức hoạt động … Theo Cral Rges: “Chỉ có cách học tập dựa trên sự khám phá bản thân hoặc tự lĩnh hội thì mới giúp con ngƣời thay đổi hành vi của mình. Bản chất của nó chính là giáo dục trải nghiệm”. Còn Richard Ponzio và Sally Stanly cho rằng: “Giáo dục trải nghiệm không đơn thuần là phải thực hiện một hoạt động, từ đó rút ra những kết luận và vận dụng vào các tình huống khác nhau. Mà thông qua việc kết hợp nhiều cảm giác trong quá trình chia sẻ kinh nghiệm, tất cả ngƣời học đều đƣợc mở rộng hiểu biết của mình”.
Nhƣ vậy trên thế giới quan niệm về giáo dục trải nghiệm đã đƣợc nhắc đến từ lâu. Mặc dù có nhiều quan điểm nhƣng đều đề cập đến cách học thông qua hoạt động trải nghiệm sẽ giúp học sinh nhớ lâu và nó kết hợp lý thuyết với thực hành trên thực tế. Thế giới đã đi những bƣớc dài trong sự phát triển các hình thái học tập, trong đó Học tập qua trải nghiệm là một trong những phƣơng thức có ảnh hƣởng sâu rộng bậc nhất. Thuyết học tập trải nghiệm, một trong số ít các lý thuyết đƣợc UNESCO khuyến khích các nhà giáo của thế kỷ XXI “phải biết” để dạy tốt, sử dụng ý tƣởng “học mà làm – làm thì học”, liên kết chặt chẽ giữa học tập, lao động, các hoạt động khác trong cuộc sống và những sáng tạo kiến thức của bản thân, giúp ngƣời học phát triển về chiều sâu.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước Trên thế giới, Học tập qua trải nghiệm đã trở thành một phƣơng pháp nền tảng cho hàng loạt các chƣơng trình dạy và học ở những cơ sở giáo dục tiên tiến nhất. Có thể thấy đây là những kinh nghiệm quí giá để chọn lọc, vận dụng phù hợp vào bối cảnh Việt Nam nhằm đổi mới giáo dục theo hƣớng phát triển năng lực ngƣời học đáp ứng yêu cầu mới. Ở Việt Nam, sinh thời, Bác Hồ – ngƣời thầy lỗi lạc của nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã nêu r quan điểm: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn liền với xã hội”. Bác đã từng nói: "Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện" và "Một chƣơng trình nhỏ mà đƣợc thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chƣơng trình lớn mà không làm đƣợc".
Thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trƣờng gắn liền với gia đình và xã hội, trong thời gian qua đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về vấn đề giáo dục HS và quản lý giáo dục HS. Từ sau năm 1995, Bộ GD&ĐT chính thức đƣa HĐGDNGLL vào kế hoạch dạy học và giáo dục trong nhà trƣờng phổ thông, có vị trí quan trọng nhƣ một môn học. Vì vậy, những nghiên cứu về HĐGDNGLL chủ yếu nhằm vào việc xây dựng chƣơng trình và biên soạn sách giáo khoa cho từng cấp học. Gần đây, trong các hoạt động GDNGLL có chƣơng trình giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện tốt hơn yêu cầu dạy chữ kết hợp với dạy ngƣời.
Trong tổ chức giáo dục kỹ năng sống cũng tổ chức cho học sinh đƣợc trải nghiệm, qua đó học sinh chủ động nắm các kiến thức mà giáo viên cần truyền đạt và vận dụng một cách sáng tạo vào trong cuộc sống. Một trong những cơ sở nghiên cứu đƣa giáo dục kỹ năng sống vào giáo dục đào tạo là Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức công dân (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam). Để đổi mới giáo dục đào tạo, vào những năm 2000, Trung tâm đã đề xuất tích hợp chƣơng trình giáo dục kỹ năng sống vào chƣơng trình môn Đạo đức ở tiểu học và môn Giáo dục công dân cũng nhƣ chƣơng trình hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trƣờng Phổ thông (từ tiểu học đến THPT). Một số trong những ngƣời có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam là Nguyễn Thanh Bình, Lƣu Thu Thủy.
Các tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và phƣơng thức giáo dục 8 kỹ năng sống [2]. Theo hƣớng này, chƣơng trình giáo dục mới vẫn duy trì một số môn học độc lập nhƣ trƣớc, tuy nhiên cách làm mới là nội dung nào gần gũi với nhau, trùng lặp nhau hoặc cùng giải quyết một vấn đề của xã hội thì hình thành các chủ đề liên môn. Việc thiết kế chƣơng trình cũng đƣa ra những thông tin cơ bản ban đầu nhƣ chƣơng trình cấp Tiểu học duy trì 2 buổi/ngày. Việc đổi mới chƣơng trình cơ bản không có nhiều xáo trộn, chỉ có một số thay đổi về kỹ thuật nhƣ đổi tên một số môn học, các môn Tìm hiểu tự nhiên-xã hội lớp 1,2,3 sẽ tăng các giờ hoạt động thực tế thay vì chỉ học kiến thức lịch sử, địa lý đơn thuần… theo định hƣớng phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất ngƣời học, theo đó nhấn mạnh phƣơng thức giáo dục qua các HĐTN thay cho tên gọi hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và nói đến HĐTN bao gồm cả HĐTN trong quá trình dạy học các môn học [3].
Khi triển khai đề án đổi mới chƣơng trình, sách giáo khoa phổ thông, vấn đề nhận thức về HĐTN đƣợc nhiều tác giả quan tâm. Trong tạp chí Khoa học giáo dục số 113,115 năm 2015, tác giả Bùi Ngọc Diệp có bài“Hình thức tổ chức các HĐTN trong nhà trường phố thông”; tác giả Đỗ Ngọc Thống có bài viết: “HĐTN từ kinh nghiệm giáo dục quốc tế và vấn đề của Việt Nam”; Tại hội thảo khoa học quốc tế và giáo dục theo năng lực tổ chức tại Học viện QLGD vào tháng 4 năm 2015, tác giả Đinh Thị Kim Thoa có bài “Xây dựng chương trình HĐTN trong chương trình giáo dục phổ thông”. Trong các bài viết các giả đã tập trung vào làm sáng tỏ các vấn đề: Vị trí, mục tiêu, nội dung, các hình thức tổ chức và phân tích điểm mạnh, cách triển khai, tổ chức các HĐTN của các nƣớc trên thế giới, đề xuất biện pháp vận dụng tại Việt Nam. Trong những năm học gần đây, ở một số trƣờng TH đã triển khai mô hình trƣờng học Việt Nam mới (VNEN), thông qua mô hình này HS đƣợc tự chiếm lĩnh kiến thức qua việc tự học, tự trải nghiệm, lúc này khái niệm HĐTN đƣợc đƣa vào trong nhà trƣờng và cũng đã thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà giáo và nhà quản lý [14].