CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Những nghiên cứu nước ngoài Việc nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường đã từ lâu trở thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển GD&ĐT của xã hội, nâng cao chất lượng giảng dạy, vai trò đóng góp của các biện pháp là hết sức quan trọng. Đây là vấn đề luôn được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm.
Từ nghiên cứu thực tiễn các nhà trường để tìm ra biện pháp quản lý hoạt động TCM sao cho hiệu quả nhất. Xu KhômLinxki (1918 - 1970) và A.Makarenko (1888 - 1939) đều là các nhà giáo dục học hàng đầu của Xô viết đã khẳng định rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV” [27, tr. Muốn xây dựng đội ngũ GV, Hiệu trưởng phải có quyền lựa chọn đội ngũ GV cho nhà trường, phân công nhiệm vụ hợp lý cho GV thông qua TCM. Nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục Eaker, R.
(2011) trong tác phẩm “Every school, every team, every classroom: District leadership for growing professional learning communities at work TM” 30 đã cho rằng kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc phần lớn vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên. Trong tác phẩm của mình ông đã tổng kết những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại trong việc quản lý hoạt động TCM tại trường phổ thông. Theo ông thì thành công lớn nhất là phải phân công công việc một cách hợp lý giữa các 8 thành viên trong Ban giám hiệu, hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tổ trưởng TCM. Lewis và Rebecca R.
Perry AE Catherine khi nghiên cứu về thích ứng thành công của nghiên cứu bài học ở Hoa Kỳ đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong TCM ở nhà trường phổ thông, trong việc nâng cao năng lực nghề nghiệp cho người giáo viên phổ thông [29]. Theo nghiên cứu của Goodman LessonLab (2004), tác giả cho rằng: “tự chủ của giáo viên và sự đóng góp trí tuệ của họ đang bị xói mòn bởi những chương trình phát triển giáo viên trong xã hội. Những chương trình này là những ý tưởng “từ trên đưa xuống giáo viên” nhằm đáp ứng yêu cầu thực thi những quyết định từ các nhà hoạch định chính sách” [31]. Như vậy, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã nghiên cứu sâu ở các khía cạnh khác nhau về lĩnh vực quản lý giáo dục, quản lý hoạt động TCM.2 Những nghiên cứu trong nước TCM có vai trò, chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng trong quản lý hoạt động dạy học và giáo dục ở trường THCS và đã được quy định rất cụ thể trong Điều lệ trường trung học (Bộ GD&ĐT, 2020).
Để thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, việc đổi mới hoạt động của TCM là yếu tố then chốt, góp phần quyết định thành công của việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới. Do đó, đổi mới quản lý hoạt động TCM trở thành một nội dung trọng tâm của quản lý nhà trường. Hoạt động chuyên môn của TCM là một hoạt động thiết yếu, chủ lực cho tất cả hoạt động giáo dục. Vai trò quản lý của tổ trưởng góp phần không ít vào việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Mọi công tác chuyên môn được bàn bạc, thống nhất và đi đến việc thực hiện đều phải qua sinh hoạt giữa các thành 9 viên trong tổ nhằm đảm bảo hiệu quả đúng theo mọi tiến độ của kế hoạch năm học đã được xây dựng. TCM có nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của Bộ GDĐT và kế hoạch năm học của nhà trường; Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ, tham gia đánh giá xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Bộ GDĐT; Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên. Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường phổ thông nói chung và quản lý các hoạt động chuyên môn trong trường THCS nói riêng. Có thể kể đến các công trình của các tác giả trong nước như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Hà Sỹ Hồ, Nguyễn Gia Quý, ….
Thời gian qua, một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn đề này, như: - Đặng Thị Nguyệt (2016), Quản lý hoạt động của TCM tại trường THCS Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, Đại học Quốc gia Hà Nội. - Đào Thị Phượng (2017), Quản lý hoạt động TCM theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THCS huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. - Lê Văn Duy (2018), Quản lý hoạt động TCM ở các trường THCS huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. - Đoàn Quốc Việt (2019), Quản lý hoạt động TCM ở các trường THPT huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ngô Văn Lý (2020), Quản lý hoạt động TCM ở các trường THCS huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. - Lý Ái Trân (2021), Quản lý hoạt động TCM ở các trường THCS quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. 10 Có thể nhận thấy, các công trình nghiên cứu trên các tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của quản lý hoạt động TCM ở các trường THCS tại địa phương cụ thể, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động TCM ở các trường THCS góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học trong nhà trường THCS ở địa phương nói riêng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên về cơ bản chỉ đi sâu vào một số nội dung quản lý hoạt động dạy học, quản lý chuyên môn ở TCM trong các trường THCS.
Hơn nữa, vấn đề về quản lý hoạt động TCM ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và chưa có luận văn nào đề cập đến. Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động TCM ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai cần có một nghiên cứu hệ thống và cụ thể, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TCM ở các trường THCS trên địa bàn. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một phạm trù xã hội, tồn tại khách quan và là một tất yếu của lịch sử.
Để thực hiện bất kỳ công việc gì thì con người cần phối hợp chặc chẽ với nhau. Khi đó họ cần thiết phải liên kết, hỗ trợ nhau để thực hiện mục tiêu, công việc chung. Xuất phát từ yêu cầu cần phải có người đứng đầu để chỉ huy, đôn đốc, kiểm tra công việc chung, người làm công việc đó gọi là quản lý. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, hình thái xã hội khác nhau sẽ có những hình thức quản lý khác nhau.Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở qui mô tương đối lớn đều cần đến một chừng mực nhất định của sự quản lý.
Quản lý là sự xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động đối với 11 các bộ phận riêng lẽ của nó” [7]. Theo từ điển Giáo dục học: “Quản lý là tác động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung” [9]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [19]. Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [16]. Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức và hiệu quả cao nhất” [11, tr. Mặc dù có những khái niệm khác nhau về quản lý, song những quan điểm trên đều có những nét chung đó là: Quản lý là hoạt động được tiến hành trong các tổ chức xã hội. Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt được các mục tiêu.
Quản lý là hoạt động có mục đích tạo nên chất lượng mới cao hơn. Quản lý là những sự tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thành sức mạnh tập thể. Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên những thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển với mục tiêu đã định. Như vậy, quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (nhà quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng 12 quản lý) trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành thuận lợi và đạt được mục tiêu đã đề ra.
Quản lý cũng như các hoạt động khác đều có chức năng riêng của nó. Quản lý có nhiều chức năng khác nhau, nhưng có thể xác định 4 chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. * Chức năng lập kế hoạch: Là chức năng hạt nhân, quan trọng nhất của quá trình quản lý. Kế hoạch phải xác định đầy đủ mục tiêu cơ bản trên cơ sở tình hình cụ thể của tổ chức và mục tiêu định sẵn, sắp xếp theo một trình tự, logic khoa học, xác định các nguồn lực để thực hiện và đạt được mục tiêu đề ra.