Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở TRƯỜNG THPT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động kiểm tra nội bộ trường học của một số nước trên thế giới Nghiên cứu với tên: “Đánh giá kiểm tra nội bộ” (Local Education Authority) của tác giả Davies, D. (2001) người Mỹ, đề cập về các nhân tố tác động đến việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB trường học của các trường học.
Nghiên cứu này được thực hiện trên một số trường tại Mỹ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lãnh đạo trường học có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB, trong đó lãnh đạo, quản lý tốt hoạt động KTNB sẽ duy trì và hướng tới tầm nhìn rõ ràng về sự phát triển của giáo dục. Trong nghiên cứu về “Ảnh hưởng của kiểm tra nội bộ trường học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân” của hai tác giả người Anh là Hall, C. (2007) đã phân tích về nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lượng khi Chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường thực hiện công tác KTNB trường học.
Tác giả Ah- Teck, J. 2014 - Tạp chí Journal of Educational Administration, 52(6), 833 - 849 trong nghiên cứu “Quản lý chất lượng giáo dục tại Mauritius và các quyết định của hiệu trưởng đến cải thiện môi trường giáo dục” tại Hà Lan đã tập trung nghiên cứu việc Hiệu trưởng ở các trường thuộc Mauritius (Hà Lan) sử dụng hệ thống dữ liệu quản lý chất lượng nội bộ trong việc đưa ra quyết định cải thiện môi trường giáo dục. (2012) nghiên cứu “Kiểm tra tính hiệu quả của mô hình kiểm tra nội bộ trường học” (School Effectiveness and School Improvement) tại 07 trường đa văn hóa, đa sắc tộc. Nghiên cứu này trình bày tính hiệu quả của mô hình KTNB trường học phục vụ việc dạy và học của các trường học thuộc cộng đồng bản địa.
Các nghiên cứu ở trong nước Tác giả Hà Sĩ Hồ đã khẳng định: “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu”. Trong cuốn “Những bài giảng về quản lí trường học”, tác giả cũng khẳng định rằng “Quản lí mà không kiểm tra thì quản lí sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lí quan liêu” [19]. Tác giả Trần Kiểm, mục đích cuối cùng của kiểm tra là điều chỉnh quyết định quản 6 lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu quản lý đã đề ra. Tuy nhiên, đây chỉ là mục đích tự thân của quản lý.
Ngoài mục đích này, kiểm tra còn phải gắn với mục đích phát triển của tổ chức và cá nhân. Kiểm tra không chỉ là điều chỉnh, mà kiểm tra còn là phát triển. KTNB nhà trường là chức năng quản lý cơ bản, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý, đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời, giúp HT hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường. KTNB nhà trường là một công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo [21]. Như vậy, kiểm tra vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để đảm bảo thực hiện các mục tiêu giáo dục. Thực tế cho thấy, nếu kiểm tra đánh giá chính xác, chân thực sẽ giúp HT có thông tin chính xác về thực trạng của đơn vị mình cũng như xác định các mức độ, giá trị, các yếu tố ảnh hưởng, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp điều chỉnh, uốn nắn có hiệu quả. Kiểm tra còn có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ và giúp đỡ các đối tượng kiểm tra làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn.
Trong bài viết “Vấn đề cơ bản về quản lí giáo dục”, tác giả Đặng Quốc Bảo xác định: Quản lí giáo dục có 4 chức năng cụ thể: Kế hoạch, chỉ huy, điều hành, kiểm tra, trong đó “kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu” [6]. Cũng theo tác giả Đặng Quốc Bảo, trong mười năng lực mang tính học thuật của người HT thì có hai năng lực giám sát và kiểm tra. Hai năng lực này hỗ trợ, bổ sung cho nhau và giúp cho người HT phát triển được cả cái tài, cái tầm trong điều hành nhà trường. Người có tài là người việc sai mà sửa được, việc xấu mà ngăn được, việc hỏng mà vớt được.
Người có tầm là người chưa có việc mà biết việc sắp tới, mới có việc đã biết diễn biến của việc ra sao, triển khai việc mà dự đoán được kết quả cuối cùng. Năng lực kiểm tra giúp cho người HT phát triển được cái tài, còn năng lực giám sát giúp cho người HT phát triển được cái tầm trong điều hành nhà trường. Tác giả Huỳnh Viết Trung trong luận văn “Kiểm tra nội bộ tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk” (2017), với hướng tiếp cận về tổ chức học trong quản lý và kiểm tra, đã làm rõ các lý luận về “tổ chức và phát triển tổ chức; mô hình Quản lý và kiểm tra trong tổ chức”, đồng thời đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động kiểm tra nội bộ tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk: Hoàn thiện chủ thể hoạt động kiểm tra nội bộ; hoàn thiện đối tượng kiểm tra nội bộ; hoàn thiện cơ chế kiểm tra nội bộ; hoàn thiện các điều kiện phục vụ kiểm tra nội bộ [39]. Nghiên cứu của tác giả Bùi Xuân Sỹ trong luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” (2017) đã làm rõ các khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, vai trò của hoạt động kiểm tra nội bộ trong công tác quản lý cũng như đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú 7 Thọ: Tăng cường nhận thức cho hoạt động KTNB đối với cán bộ quản lý nhà trường; đổi mới xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động KTNB trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục; đổi mới tổ chức, chỉ đạo hoạt động KTNB trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục nói chung; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên làm công tác KTNB trong bối cảnh đổi mới hiện nay; thực hiện quy trình kiểm tra nội bộ nhà trường với các yêu cầu theo định hướng đổi mới giáo dục; tăng cường các điều kiện cho hoạt động KTNB.
Tác giả đã phân tích mối quan hệ cũng như khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất, qua đó đã đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ [34]. Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục “Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THPT của huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình” (2016) của tác giả Lại Văn Thư đã làm rõ các khái niệm về quản lý, hoạt động kiểm tra nội bộ cũng như đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THPT trên địa bàn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động KTNB; đổi mới phương thức chỉ đạo của phòng Giáo dục và Đào tạo đối với hoạt động kiểm tra nội bộ; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra cho đội ngũ cộng tác viên thanh tra và Hiệu trưởng các trường THPT; đổi mới nội dung hoạt động kiểm tra nội bộ trường THPT; sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí, trang thiết bị cho hoạt động kiểm tra nội bộ trường THPT; điều chỉnh kế hoạch của nhà trường sau khi có kết quả kiểm tra nội bộ. Qua khảo nghiệm của tác giả, các biện pháp trên có tính cấp thiết, khả thi cao, có tác dụng nhất định trong quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THPT huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình [38]. Ngoài ra, trong các luận văn “Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường Tiểu học huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang” (2017) của tác giả Nông Quốc Duy [14], Luận văn “Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường Tiểu học thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” (2014) của tác giả Lại Thị Thanh Huyền [20], đã nghiên cứu lí luận về quản lý, quản lý giáo dục, kiểm tra, kiểm tra nội bộ cũng như đề xuất các biện pháp, phân tích mối quan hệ của các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học.
Trong bối cảnh ngành giáo dục đang triển khai chuyển đổi số, thích ứng với đại dịch COVID-19, cùng với đó là các trường THPT đang thực hiện CT GDPT 2018, điều kiện đã thay đổi, nên trong các luận văn thạc sĩ QLGD những năm gần đây, các tác giả đã đề cập một số vấn đề về hoạt động KTNB nhưng chưa thật sự phù hợp với bối cảnh hiện nay. Vấn đề quản lý hoạt động KTNB nói chung và quản lý hoạt động KTNB ở các trường THPT nói riêng cần được tiếp tục nghiên cứu, làm tường minh và áp dụng vào thực tế các trường. Các tài liệu liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra trong giáo dục của các cơ quan, tác giả trong và ngoài nước là tư liệu quý, cần thiết giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài. Với mong muốn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động KTNB nhằm góp phần tích cực thực hiện đổi mới giáo dục hiện nay, luận văn này sẽ có những đóng góp nhất định nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý hoạt động KTNB tại các trường THPT.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Về khái niệm quản lý có nhiều các định nghĩa khác nhau, tuy nhiên về cách diễn đạt đều giống nhau ở nội dung.