Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trên thế giới, trong nghiên cứu “Quản lí chất lượng giáo dục ở Mauritius và các quyết định của hiệu trưởng nhằm cải thiện môi trường giáo dục” ở Hà Lan của Ah- Teck, JC, & Starr, KC [2014- Tạp chí Quản lí Giáo dục, 52 (6), 833-849] tập trung vào việc sử dụng các hiệu trưởng trường học ở Mauritius (Hà Lan) bằng cách sử dụng hệ thống dữ liệu quản lí chất lượng nội bộ trong việc đưa ra các quyết định cải thiện môi trường giáo dục. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cũng cho thấy quản lí chất lượng KTNB là rất quan trọng và càng quan trọng hơn khi hiệu trưởng sử dụng kết quả đó vào các quyết định của mình trong quá trình quản lí nhà trường. Nhóm tác giả Davies, D.
(2001) đến từ Mỹ, trong một nghiên cứu có tiêu đề: “Quản lí giáo dục địa phương”, đã đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB trường học. Nghiên cứu này được thực hiện trên một số trường học ở Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy lãnh đạo trường có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định thực hiện KTNB, trong đó lãnh đạo quản lí tốt sẽ duy trì hoạt động KTNB và hướng tới tầm nhìn phát triển rõ ràng của giáo dục. Cũng tại Hoa Kỳ, các tác giả McNaughton, S.
Lai, MK, & Hsiao, S. (2012) Nghiên cứu “Thử nghiệm hiệu quả của mô hình KTNB trường học” (Hiệu quả trường học và cải tiến trường học) tại các trường đa văn hóa, đa dân tộc. Nghiên cứu này trình bày hiệu quả của mô hình KTNB của trường đối với việc dạy và học trong các trường thuộc cộng đồng bản địa. Theo đó, việc nâng cao vai trò của Hiệu trưởng cũng như cải tiến công tác quản lí theo mô hình KTNB của nhà trường đã giúp công tác quản lí nhà trường đạt hiệu quả cao.
Từ một số nghiên cứu trên có thể thấy công tác KTNB trường học rất được các nhà quản lí giáo dục ở nước ngoài coi trọng. Công tác KTNB trường học được đánh giá cao trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, cũng như nâng cao chất lượng học tập của học sinh và có nhiều tác động hơn so với kiểm tra bên ngoài (kiểm tra). Đồng thời, các nghiên cứu trên cũng cho thấy vai trò của hiệu trưởng trong việc quyết định và tổ chức công tác KTNB trường học ở các quốc gia này. Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu, kinh nghiệm, sáng kiến trong công tác quản lí hoạt động KTNB trường học, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Không chỉ vậy, Chính phủ còn xây dựng và tổ chức hệ thống thi cử từ Nhà nước, Trung ương, Bộ GDĐT… đến các địa phương, cơ sở dạy học, giáo dục trên cả nước và vận hành hệ thống bằng các quy định và nghị định, thông tư. Cụ thể như: 5 Về nội dung triển khai thực hiện công tác kiểm tra đã có nhiều nhà nghiên cứu. Trong tác phẩm “Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [11], các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư đã dành một chương để đề cập đến vấn đề kiểm tra và thanh tra trong giáo dục. Các tác giả xác định kiểm tra là một thành tố của quá trình giáo dục, đồng thời kiểm tra là chức năng quan trọng của hoạt động quản lý.
Về hình thức, hoạt động kiểm tra kết thúc cho một quá trình quản lý, đồng thời chuẩn bị cho một quá trình quản lý tiếp theo. Về quản lí nhà trường, các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ Sỹ Tiến đều đã học về quản lí giáo dục. Trong công trình của mình, các tác giả đã đưa ra những nguyên tắc chung của quá trình Dạy - Học, từ đó chỉ ra một số biện pháp quản lí nhà trường. Trong đó biện pháp kiểm tra là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm duy trì hoạt động của nhà trường theo đúng mục tiêu, kế hoạch mà nhà trường đã đề ra trong từng thời kỳ phát triển của giáo dục nhà trường.
Chức năng kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi vì quá trình quản lí đòi hỏi phải có thông tin chính xác, thông tin kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lí, về việc thực hiện các vấn đề các quyết định, tức là đòi hỏi phải có mối quan hệ ngược chiều chính xác và vững chắc giữa các phân hệ quản lí. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang chỉ ra rằng: kiểm tra là bước cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lí. Kiểm tra giúp chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo. Nếu làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá sâu sắc, làm tốt công tác chuẩn bị cho trạng thái cuối cùng của hệ thống (nhà trường) thì trong nhiệm kỳ tới hoặc năm học tới, việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, có tính kế thừa, có sức phát huy, phát hiện những sai lệch để sửa chữa và loại bỏ.
"Tác giả kết luận:". kiểm tra có vai trò ngược lại trong quá trình quản lí. Nó giúp chủ thể quản lí điều khiển hệ thống quản lí một cách tối ưu. Không kiểm tra, không quản lí ”[13].
Ngoài ra, trong thời gian qua, đã có một số tài liệu, một số luận văn thạc sĩ QLGD nghiên cứu về công tác KTNB trong nhà trường. Tuy nhiên, đa phần các tác giả mới chỉ đề cập đến việc quản lý công tác KTNB ở các trường phổ thông. Việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp quản lý công tác KTNB ở các trường mầm non, đặc biệt là các trường MNTT đến nay vẫn còn ít tác giả quan tâm nghiên cứu. Những khái niệm chính 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường a. Quản lí Quản lí là lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, quản lí có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. Khi nói đến cơ sở khoa học của quản lí, Mác viết: “Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lí, giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển còn 6 một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.[15] Theo đó, lao động xã hội và quản lí là hai phạm trù có quan hệ biện chứng, không tách rời nhau. Khi lao động xã hội đạt đến một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lí thành một hoạt động đặc biệt.
Từ đó, trong xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên hoạt động quản lí, hình thành nghề quản lí. Như vậy, với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, giáo dục, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về quản lí: C. Mác: “Quản lí xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”.Koontz: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.Taylor: “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” K.Omarov: “Quản lí là tính toán sử dụng hợp lí các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu” Henry Fayol: “Quản lí hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.
Phạm Minh Hạc: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể người quản lí đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lí) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến”. [7] Trần Kiểm: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” .[13] Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lí là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. [9] Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí:“Quản lí là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” .[16] Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lí, tuy nhiên dù tiếp cận theo cách nào thì về bản chất quản lí mà các tác giả nêu ra có một số điểm chung là: - Hoạt động quản lí là quản lí con người được tiến hành trongmột hẹ thống, một tổ chức hay một nhóm xã hội. 7 - Quản lí là những tác động có mục đích, có hướng đích; là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt mục tiêu của tổ chức.
Đây là thể hiện mối quan hệ của chủ thể quản lí và đối tượng quản lí. - Quản lí là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể quản lí và khách thể quản lí luôn có tác động qua lại và chịu tác động của môi trường. - Hoạt động quản lí nhằm huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh các nguồn lực một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.
Quản lí vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật. Từ những quan niệm trên, khái niệm chung, khái quát về quản lí: Quản lí là sự tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí để lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển đối tượng quản lí thực hiện nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.