phần mở đầu và kết luận, đề tài được bố cục trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường Mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường Mầm non ngoài công lập thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường Mầm non ngoài công lập thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi tại các trƣờng Mầm non 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập đến ngay từ thời cổ đại, gắn với triết học và lôgíc học. Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của cái bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con người. Trong cuốn "Bàn về phương pháp", Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người khác với động vật.
Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật". Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học. Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823-1899). Ông đã đưa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc.
Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc. Thông qua quá trình nghiên cứu của mình, triết gia Aristote đã rút ra kết luận rằng: “cùng với quá trình nhận thức của con người về tự nhiên và xã hội là quá trình phát triển ngôn ngữ”. Ngôn ngữ là hình thức biểu hiện duy nhất của tư duy. Ngôn ngữ c n là điều kiện quan trọng trong quá trình nhận thức của con người.
Theo tác giả Lưu Hiệp, một triết gia nổi tiếng của Trung Quốc thì những điều chúng ta suy nghĩ ở trong đầu nếu không được biểu hiện ra bên ngoài bằng ngôn ngữ thì người khác không bao giờ biết được. Trên cơ sở đó phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ quan trọng không hề thua kém phát triển tư duy. Bước sang thế kỷ XIX với những cống hiến của Shteintal mà xu hướng tâm lý học ngôn ngữ được hình thành và phát triển. Shteintal cho rằng; “Ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc” [21, tr.
Theo ông, nghiên cứu ngôn ngữ phải dựa vào tâm lý của cá nhân và tâm lý dân tộc. Nhà nghiên cứu V. Vunt (1832-1920) lại tập trung nghiên cứu lý thuyết về dạng thức bên trong của từ, các loại ý nghĩa chuyển đổi của từ, nghĩa hiện có của từ và câu, về mối quan hệ liên tưởng có tính ngữ đoạn. Sau cách mạng tháng Mười Nga, các nhà nghiên cứu đã vận dụng quan điểm 6 của Mác-Lênin vào hoạt động nghiên cứu để xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội.
Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa con người với con người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Pôtdiacốp trong cuốn: “Tư duy và ngôn ngữ” cho rằng: “Hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ là của cá thể” [25, tr. Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của người lớn và bạn b có năng lực cao hơn, những người này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ.
Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tư duy trong xã hội nhất định được chuyển giao sang trẻ. Do ngôn ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi các giá trị xã hội. Với công trình nghiên cứu mang tên: “ Phát triển ngôn ngữ trẻ em”, nhà nghiên cứu E. Tikheeva khẳng định: “Tiếng mẹ để là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức” [32, tr.
Ông cũng cho rằng: sự phát triển ngôn ngữ của trẻ cùng với các kỹ năng, hành vi khác được hình thành do các thao tác trong cuộc sống, sự “bắt chước” là rất quan trọng. Những thao tác bắt chước từ người lớn là cơ sở để hình thành ngôn ngữ. Bên cạnh đó là sự giúp đỡ của người lớn sẽ cho trẻ nhanh chóng trưởng thành về mặt ngôn ngữ. Nhà nghiên cứu L.
Vưgôtxki cho rằng: “Ngôn ngữ chính là nền tảng của quá trình tư duy bậc cao như: điều khiển, ghi nhớ có chủ định, phân loại, kế hoạch hóa hoạt động, giải quyết vấn đề. Trẻ càng lớn càng thấy các hoạt động dễ dần, ngôn ngữ tự điều chỉnh sẽ chuyển đần vào bên trong thành lời nói thầm” [35, tr. Trong lý thuyết về vùng phát triển gần, Vưugotxky đề cập đến một loại bài tập mà trẻ không thể giải quyết được nếu không có sự giúp đỡ của người lớn hay bạn b lớn hơn. hi tham gia vào hoạt động giao tiếp trẻ học được ngôn ngữ của bạn lớn, người lớn và biến chúng thành ngôn ngữ cá nhân, sau đó lại dùng nó để tổ chức hành động của cá nhân mình theo cách tương tự.
Với những công trình nghiên cứu công phu của nhiều nhà nghiên cứu uy tín trên khắp thế giới đã tạo điều kiện và cơ sở hình thành chuyên ngành ngôn ngữ học nói chung, trong đó có một bộ phận quan trọng là ngôn ngữ trẻ em. Với những kết quả nghiên cứu đó đã tạo nền móng, cơ sở lý luận, cơ sở khoa học cho những nghiên cứu của các thế hệ sau này. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, vấn đề ngôn ngữ cũng được nhiều học giả tập trung nghiên cứu và đạt được nhiều kết quả quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt đối với hoạt động phát triển ngôn ngữ trong trường học nói chung và trong các trường mầm non nói riêng. Tác giả 7 Lưu Thị Lan trong cuốn “Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi” đã phân chia và chỉ rõ đặc điểm các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ một đến sáu tuổi.
Với công trình nghiên cứu mang tên “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, tác giả Nguyễn Xuân hoa đã đề xuất các biện pháp hướng dẫn trẻ kể chuyện với mục đích phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các cấp độ khác nhau như: “ kể lại chuyện, kể chuyện theo tri giác, kể chuyện theo trí nhớ, kể chuyện theo tưởng tượng” [9, tr. Tự điển Tiếng việt (Hoàng Phê) cho rằng: “ Miêu tả là dùng một phương tiện nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người”. Trên cơ sở đó Nguyễn Thị Huệ khẳng định: “Ngôn ngữ miêu tả được hiểu là những từ ngữ dùng để tái hiện sự vật, hiện tượng khách quan hoặc tâm lí chủ quan của con người một cách rõ nét. Sử dụng đồ chơi để dạy trẻ kể chuyện sẽ giúp trẻ học ngôn ngữ hữu hiệu, được trải nghiệm những câu chuyện thú vị với các nhân vật, sự kiện” [19, tr.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Huệ c n phát hiện: “ Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh cho phép trẻ em ở tuổi mẫu giáo giải thích được nhiều vấn đề khác nhau trong truyện kể. Đây là “mầm móng” của tưởng tượng tích cực, tưởng tượng có chủ định cũng hình thành trong giai đoạn này. Trong vui chơi, tưởng tượng tích cực xuất hiện dần và càng lúc rõ hơn. Trẻ không chỉ thực hiện hành động tái tạo mà bắt đầu có khả năng thực hiện sáng tạo những hành động.
Mặt khác, từ hành động đến lời nói, cử chỉ điệu bộ của trẻ đã có sự hoà quyện với vai nhân vật mà trẻ thực hiện - vai chơi. Tưởng tượng của trẻ thể hiện sự tích cực và sự sáng tạo” [19, tr. Theo kết quả nghiên cứu test " Sẵn sàng đi học" của Nguyễn Thị Hồng Nga - Viện hoa học giáo dục - trong 4 phần của test là ngôn ngữ, toán, tâm vận động và giao tiếp thì ngôn ngữ của trẻ yếu hơn các mặt khác (Điểm số trung bình so với % của max về ngôn ngữ chỉ đạt 53% trong khi đó: toán đạt 70%; tâm vận động: 69%, còn giao tiếp là 57%). Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo một cách hiệu quả nhất, các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến vai tr của hoạt động tr chuyện, giao tiếp hằng ngày giữa cô với trẻ: “ Tr chuyện là một biện pháp giúp trẻ thể hiện được ý tưởng bằng ngôn ngữ một cách mạch lạc, hình thành khả năng kể chuyện sáng tạo với đồ chơi.
Thông qua đàm thoại giữa cô với trẻ mà sự hiểu biết của trẻ được củng cố, mở rộng và chính xác hơn. Sự ghi nhớ của trẻ cũng lâu hơn, sự chú ý có chủ đích sâu hơn. Bởi vì chính thông qua tr chuyện đàm thoại mà trẻ hình dung được những nhân vật mà trước đó có thể trẻ chưa từng tiếp xúc. Các câu hỏi có tác dụng hướng sự chú ý của trẻ tới đối tượng cần nhận 8 thức, dạy trẻ biết quan sát chi tiết các đặc điểm, tính chất, mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên.
Các câu hỏi cũng đồng thời kích thích trẻ nói, gọi tên hoặc mô tả nhân vật đồ chơi, qua đó, vốn từ của trẻ ngày càng được mở rộng hơn. hi tr chuyện, giáo viên có thể sử dụng phối hợp một số thủ thuật: nói mẫu, giảng giải, khen ngợi, cho trẻ sử dụng các thao tác: sờ, cầm, nắm” [31, tr.265] Phạm Ngọc Định - Trung tâm công nghệ giáo dục khi nghiên cứu những yếu tố tâm lý cần thiết cho trẻ em vào lớp 1 thu được kết quả là 30 số trẻ ngôn ngữ nói chưa rành rọt (nghiên cứu trên 240 trẻ lúc mới vào lớp 1). Tuy nhiên các công trình nghiên cứu của các tác giả chủ yếu tập trung xem xét vấn đề ở cấp độ vĩ mô.