Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Ở Việt Nam Kiểm định chất lượng giáo dục là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam. Từ tháng 1 năm 2002 Bộ giáo dục và Đào tạo thành lập Phòng kiểm định chất lượng Đào tạo trong vụ Đại học.
Đến năm 2003 sau khi Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập, việc kiểm định chất lượng giáo dục mới được mở rộng cho các cấp học và trình độ đào tạo khác. Từ tháng 12 năm 2004, Kiểm định chất lượng được đẩy mạnh khi quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường Đại học được ban hành. Từ đó đến nay nhiều văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn triển khai công tác KĐCLGD đã được ban hành, trong đó có các quy định và hướng dẫn về hoạt động tự đánh giá ở trường THPT: Quốc hội phê duyệt các văn bản [1]. Luật Giáo dục 2005 (Điều 17, 58, 99).
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009 (Mục 3a). Chính phủ ban hành các văn bản [1]. Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục (Chương II, Điều 38-40); [2]. Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục (Điều 1, khoản 14, 15).
Bộ GD&ĐT ban hành các văn bản về kiểm định trường phổ thông 6 [1]. Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về Tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học. Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ KĐCLGD cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở GDTX (Thông tư này thay thế Quyết định 04/2008/QĐ-BGDĐT, Thông tư 12/2009/TT-BGDĐT, Quyết định 80/2008/QĐ-BGDĐT và Quyết định 83/2008/QĐ-BGDĐT). Cục Khảo thí và KĐCLGD, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các văn bản hướng dẫn [1].
Công văn số 141/KTKĐCLGD-KĐPT ngày 21 tháng 12 năm 2011 của Cục Khảo thí và KĐCLGD về việc Hướng dẫn xác định nội hàm, tìm thông tin và minh chứng để đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT. Công văn số 8987/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Cục Khảo thí và KĐCLGD hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở GDTX. Các văn bản trên là công cụ pháp lý quan trọng để triển khai kiểm định CLGD, trong đó có hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT tại Việt Nam. Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn như trên về hoạt động TĐG và KĐCL , hiện nay cũng đã có nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này như: " Xu hướng đánh giá chất lượng, chương trình đào tạo trên thế giới và ở Việt Nam" của PGS.
Nguyễn Thị Kim Anh và TS. Lê Văn Hảo trường Đại học Nha Trang trong Hội thảo tập huấn KĐCLGD tại Nha Trang tháng 12 năm 2013. "Tổng quan về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam" của TS. Phạm Xuân Thanh, Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định CLGD.
“Hướng dẫn tự 7 đánh giá chất lượng chương trình đào tạo giáo viên THPT trình độ đại học” của Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN. "Hướng dẫn tự đánh giá cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo" của TS. Lê Mỹ Phong, Cục Khảo thí và kiểm định CLGD. Như vậy Kiểm định chất lượng giáo dục là một trong những giải pháp căn bản để nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay.
trong đó khâu tự đánh giá cần được trú trọng để trở thành công cụ để cải tiến chất lượng và hiệu quả giáo dục tại các nhà trường. Trên thế giới Kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) là một trong những hoạt động của hệ thống đảm bảo chất lượng, là biện pháp hữu hiệu được sử dụng để nâng cao chất lượng giáo dục. Trên thế giới có hơn 150 nước có hệ thống quốc gia đảm bảo và KĐCLGD. Những nước có hệ thống đảm bảo và KĐCLGD lâu đời như Mỹ, Anh.
Những nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ví dụ: Thái Lan, Malaysia, Campuchia…) cũng đã có các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia và có hệ thống chân rết đến từng cơ sở giáo dục. Các tổ chức này rất khác nhau. Một xu thế chung là các quốc gia ngày một quan tâm nhiều hơn đến hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục và đứng ra thành lập các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia. KĐCLGD có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và Bắc Mỹ từ hơn 100 năm nay, và hiện nay đang được nhiều nước sử dụng.
Nguyên tắc của KĐCLGD là phải được độc lập đưa ra quyết định, không bị chi phối bới các cơ quan khác. Đối tượng KĐCLGD là các cơ sở giáo dục (nói chung), các chương trình giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp. KĐCLGD nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục; xác nhận mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định; làm căn cứ để cơ sở giáo dục giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lượng đào tạo; làm cơ sở cho người 8 học lựa chọn cơ sở giáo dục và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực. Sau đây là xu hướng KĐCLGD, trong đó có hoạt động tự đánh giá ở một số nước trên thế giới: Hoa Kỳ: - Kiểm định chất lượng chương trình đào tạo (program accreditation) cũng phổ biến như kiểm định chất lượng trường đại học (institutional accreditation).
- Người ta còn gọi “kiểm định chất lượng chương trình đào tạo” là “kiểm định chất lượng đào tạo nghề nghiệp” (professional accreditation) hoặc “kiểm định chuyên môn” (specialized accreditation). - Có khoảng 52 tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo nghề nghiệp. Indonesia: - Hội đồng Quốc gia Kiểm định Giáo dục Đại học (National Board for Accreditation in Higher Education) có trách nhiệm kiểm định cả trường đại học lẫn các chương trình đào tạo. - Hội đồng này đưa ra những khuyến cáo trực tiếp về việc cải tiến chương trình.
Những khuyến cáo này dựa trên cơ sở phân tích các điểm mạnh, yếu, những cơ hội và thách thức được nêu trong kết quả kiểm định. - Các khuyến cáo cũng được gửi tới Cục trưởng Cục đại học (Director General of Higher Education) để Cục này có những hành động có tính chính sách liên quan tới các chương trình đào tạo. Malaysia: - Chất lượng các trường đại học tư thục và các chương trình đào tạo trong các trường này do Lembaga Akkreditasi Negara (LAN) tức là Hội đồng Kiểm định Quốc gia kiểm định. - Việc đánh giá chương trình đào tạo trong các trường đại học công lập do Cục văn bằng Malaysia thực hiện.
- Tiêu chuẩn đánh giá do Chính phủ đề ra, có tham vấn ý kiến của các cá 9 nhân/tổ chức liên quan. - Malaysia cũng đã có một số tổ chức đánh giá nghề nghiệp như Hội đồng Y học Malaysia (Malaysian Medical Coucil), Hội đồng Kỹ sư (Board of Engineers) và Hội đồng ngành Pháp luật (Legal Profession Qualifications Board). Philippines: - Có 3 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, kiểm định cả các trường đại học và các chương trình đào tạo. - Tổ chức kiểm định chất lượng các trường đại học hiến chương của Philippines (AACCUP) thành lập năm 1987 có chức năng chính là kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo của các trường đại học công.
- Hiệp hội kiểm định chất lượng trường phổ thông và trường đại học Philippines (PAASCU). Hoạt động của Hiệp hội được thực hiện ở cấp chương trình đào tạo, bao gồm cả việc đánh giá các hoạt động giáo dục lẫn công tác nghiên cứu khoa học. - Hội đồng kiểm định chất lượng các trường đại học Philippines (PACUCOA), tập trung đánh giá các chương trình đào tạo liên quan chủ yếu đến việc mở rộng trí tuệ, không đơn thuần đào tạo về kỹ thuật hoặc nghề nghiệp (liberal arts), các chương trình đào tạo về giáo dục, thương mại, biển. Thailand: - Cục Tiêu chuẩn & Đánh giá chất lượng giáo dục quốc gia (ONESQA) được thành lập năm 2000 chịu trách nhiệm về công tác kiểm định chất lượng.
- Vòng kiểm định chất lượng đầu tiên mới chỉ được tiến hành trong năm 2006. - Thailand cũng tiến hành kiểm định chất lượng cả ở cấp trường đại học và cấp chương trình đào tạo. Trên đây là những xu hướng kiểm định chất lượng giáo dục ở một số nước trên thế giới và khu vực. Trong kiểm định chất lượng giáo dục thì tự đánh 10 giá là một khâu bắt buộc và là cơ sở để tiến hành kiểm định.
Như vậy tự đánh giá cũng chính là một bộ phận của quá trình đánh giá. Trong tạp chí giáo dục học Xô viết tháng 6/1973, V.Levcôvich đã nhấn mạnh vai trò của tự đánh giá qua bài viết "Tự đánh giá và vai trò của nó trong quá trình hình thành và giáo dục nhân cách". Tác giả vạch rõ con đường tự đánh giá và khẳng định vai trò điều khiển, điều chỉnh hành vi con người của tự đánh giá. Ngoài ra còn nhiều tác giả quan tâm đến tự đánh giá trong giáo dục như: Boud (19910, Hannien (1994).
Các khái niệm cơ bản 1. Đánh giá Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Đánh giá có nghĩa nhận định giá trị. Những từ có nghĩa gần với đánh giá là phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét. Đánh giá một đối tượng nào đó, chẳng hạn một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục hay môi trường.
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: Đánh giá là một quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc[14].