Phần mở đầu - Phần nội dung gồm ba chương: 4 + Chuong I: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ Sở; + Chương II: Thực trạng quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường trung học cơ sở thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam; + Chương III: Biện pháp quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường trung học cơ sở thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam. - Kết luận và khuyến nghị - Phụ lục - Tài liệu tham khảo. 5 CHUONG 1 COSOLILUAN VE QUANLI „ HOAT DONG TY DANH GIA TRONG KIEM DINH CHAT LUQNG GIAO DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan các vẫn đề nghiên cứu về quản lí hoạt động tự đánh giá trong KĐCLGD 1.
Những nghiên cứu ở nước ngoài Kiểm định chất lượng ra đời từ cuỗi thé ky thứ XIX ở Hoa Kì và các nước Bắc Mi, ban đầu được áp dụng trong sản xuất, về sau phát triển rộng rãi đến nhiều lĩnh vực khác, trong đó có giáo dục. Với lịch sử phát triển hàng trăm năm, KĐCLGD đã trở thành công cụ đảm bảo chất lượng đối với các nền giáo dục hiện đại. Đến nay, các công trình nghiên cứu về KĐCLGD phần lớn xuất phát từ KĐCLGD đại học tại một số nước trên thế giới. Hoa Kì: Theo Eaton (2007) [28], [29] tại Hoa Kì, kiểm định giáo dục được thực hiện chủ yếu bởi các hiệp hội thành viên phi lợi nhuận tư nhân, tính hợp pháp được xác nhận thông qua sự công nhận của Bộ Giáo dục Hoa Kì (USDE) và Hội đồng Kiểm định giáo dục đại học (CHEA) hoặc cả hai.
USDE và CHEA không trực tiếp kiểm định mà chỉ công nhận các tô chức kiểm định. Các tổ chức kiểm định tìm kiếm sự công nhận của USDE hoặc CHEA vì những lí do khác nhau: sự công nhận của USDE là bắt buộc đối với các tổ chức kiểm định thực hiện việc kiểm định các cơ sở giáo dục hoặc chương trình để đủ điều kiện được nhận quỹ hỗ trợ sinh viên liên bang, USDE chỉ công nhận các cơ quan kiêm định để kiểm định các tô chức giáo dục đại học, không kiểm định giáo dục phổ thông. Sự công nhận của CHEA mang lại tính hợp pháp cho các tô chức kiêm định về học thuật, giúp khẳng định vị trí của các tổ chức này cùng với các cơ sở giáo dục và chương trình của họ trong cộng đồng giáo dục đại học quốc gia. Mục đích của CHEA là cung cấp sự hỗ trợ quốc gia để chứng nhận chất lượng của các tổ chức kiểm định giáo dục đại học.
Một số đặc trưng của KĐCLGD Hoa Kì [7]: Kiểm định chất lượng ở Hoa Kì là hoạt động tư nhân, phi chính phú. Phần lớn kiểm định chất lượng do các Hiệp hội kiểm địch chất lượng tiến hành. Chính phủ liên bang và chính quyền tiểu bang đều không đánh giá các trường đại học mà đương nhiên công nhận kết quả kiêm định do các Hiệp hội đánh giá dé quyết định trợ giúp tài chính cho trường đại học. Các tiêu chuân đánh giá dùng cho kiểm định do chính các hiệp hội tự xây dựng.
Kiểm định chất lượng có thể được tiễn hành ở phạm vì trường đại học hoặc chương trình đào tạo (ngành đào tạo): 6 Hiệp hội trường đại học, cao đẳng vùng cùng 6 5 Hiệp hội cấp quốc gia tiễn hành kiểm định chất lượng trường đại học và 43 Hội kiểm định chat lượng chuyên ngành thực hiện kiểm định chất lượng chuyên ngành đào tạo. Ví dụ các hiệp hội: Hiệp hội trường Đại học và Cao đẳng miền Trung Hoa Ki (Middle States Association of Schools and Colleges); Hiệp hội các trường đại học quản trị kinh doanh Hoa Kì American Assembly of Collegiate School of Business); Hiệp hội kiểm định chuyên ngành đảo tạo giáo viên quốc gia (National Council for Accreditation of Teacher Education); Hiệp hội chuyên ngảnh đào tạo Y khoa Hoa Kì (American Medical Association). Kiểm định chất lượng là hoạt động hoàn toàn tự nguyện. Kiểm định chất lượng là không bắt buộc nhưng phần lớn các trường đại học đều tự nguyện đăng ký với các tô chức hoặc hiệp hội để được kiểm định nhằm nhận được sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ hoặc các tổ chức xã hội, và cũng muốn bằng cấp của mình được xã hội thừa nhận.
Bởi vì, sinh viên học ở các trường chưa kiểm định sẽ gặp khó khăn trong việc học sau đại học tại các trường đã kiểm định hoặc khó được thị trường lao động chấp nhận. Tuy nhiên, có một số chuyên ngành đào tạo cần phải kiểm định như y khoa, luật. Qui trình kiển định luôn gắn với đánh giá động cấp (peer review). Các chuyên gia đánh giá đồng cấp được lựa chọn từ các trường, ngành học hoặc có chuyên môn tương tự như chương trình được đánh giá.
Nhóm đánh giá tham gia trên cơ sở tự nguyện nhưng nhà trường cũng phải chỉ trả cho những khoản kinh phí để nhóm hoạt động. Tiêu chuẩn đánh giá mêm dẻo. Các hiệp hội sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá được xây dựng có tính mềm dẻo và được thay đôi phù hợp với sứ mạng của từng trường. Qui trình kiểm định không mang tính xếp hạng.
Kiểm định chất lượng đào tạo nhà trường hay chương trình dao tao chỉ đến kết quả có đạt được những tiêu chuân đã đề ra hay không và điều đó đòi hỏi các trường phải liên tục cải tiến chất lượng nhưng không có mục đích xếp hạng các trường. Vương quốc Anh: Cơ quan đảm bảo chất lượng cho giáo dục đại học (QAA) là một tổ chức độc lập chịu trách nhiệm quản lí, tư vấn về tiêu chuẩn, chất lượng giáo dục đại học của Vương quốc Anh. Từ năm 2011, QAA đã được Cơ quan Biên giới Anh (UKBA) chỉ định thực hiện giám sát các tổ chức cung cấp giáo dục đại học để cho phép họ đăng kí với tư cách “nhà tài trợ đáng tin cậy” theo quy định Cấp 4 của UKBA. Các tô chức giáo dục có được tư cách này sẽ được quyền tuyển dụng sinh viên nước ngoài vào Vương quốc Anh.
QAA thường xuyên làm việc với các trường đại học để xác định những tiêu chuẩn đánh giá; cung cấp cho sinh viên và các nhà sử dụng lao động những thông tin chính xác, rõ rằng về chất lượng và tiêu chuẩn của các cơ sở giáo dục đại học; xây dựng và quản lí các hoạt động cấp bằng; tư vấn cho chính phủ về quyền hạn cấp bằng và tước hiệu cho các trường đại học. 7 QAA tiến hành kiểm định chất lượng ở cấp trường đại hoc (institutional level) và đánh giá chương trình đảo tạo cấp môn học (subject level). Kiểm định chất lượng cấp trường: Được thực hiện thông qua việc đánh giá đồng cấp theo một quy trình trên cơ sở minh chứng tại Anh và Bắc Ailen. Qui trình kiểm định cấp trường được đưa ra trong khung đảm bảo chất lượng ban hành năm 2002 và được điều chỉnh năm 2005 để áp dụng cho chu kỳ kiểm định đến năm học 2010 - 2011.
Mục tiêu chính của quy trình kiểm định nhằm đáp ứng sự quan tâm của công chúng về chất lượng đào tạo trường đại học [8]. Giúp các cơ sở đào tạo đại học nâng cao chất lượng dịch vụ; Tăng sự tin tưởng của công chúng trong và ngoài nước đối với chất lượng đào tạo của các trường và chuẩn bằng cấp của họ; Giúp các đơn vị cung cấp tài chính hoàn thành trách nhiệm được giao; Cung cấp những thông tin đáng tin cậy, có lợi cho những sinh viên tương lai, các nhà sử dụng sinh viên tốt nghiệp, các bậc phụ huynh, chính phủ, các đơn vị cung cấp tài chính và chính bản thân các trường; Tạo ra biện pháp nâng cao trách nhiệm đối với các nguồn lực mà nhà nước và cá nhân cung cấp cho các trường. Đánh giá môn học: Việc đánh giá môn học được tiễn hành đối với tất cả các chương trình đảo tạo ở các cấp độ ở Anh, xứ Wales, Bắc Ailen và được đánh giá đồng cấp. Quy trình đánh giá môn học gồm tự đánh giá, đánh giá mục đích và mục tiêu của người giảng dạy môn học, đi đánh giá thực tế môn học, nhận định và báo cáo đánh giá môn học về các lĩnh vực: Thiết kế chương trình đảo tạo, nội dung và tổ chức; Dạy, học và kiểm tra - đánh gia; Tiến bộ của sinh viên và kết quả đạt được; Hướng dẫn và hỗ trợ sinh viên; Các nguồn lực phục vụ cho học tập; Quản lí và nâng cao chất lượng.
Các Tiểu vương quốc Á Rập Thống nhất: Tại UAE, Ủy ban Kiểm định Học thuật (CAA), được thành lập để đảm bảo rằng các trường cao đẳng và đại học của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, tiễn hành cấp phép thành lập các cơ sở giáo dục đại học và kiểm định từng chương trình học tập. Châu Á - Thái Bình Dương: Hiện nay, nhiều quốc gia thuộc châu Á - Thái Bình Dương đã có các cơ quan kiểm định chất lượng, sớm nhất là Hội đồng Kiểm định Học thuật Hồng Kông (HKCAA) là một cơ quan được thành lập theo Sắc lệnh HKCAA năm 1990. Theo Tài liệu “Tập huấn đánh giá chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế - hoạt động tự đánh giá và chuẩn bị cho đánh giá ngoài” của Viện Đảm bảo chất lượng giáo duc, Dai học Quốc gia Hà Nội, năm 2014 khu vực châu Á - Thái Bình Dương có I5 tổ chức đảm bảo chất lượng cấp quốc gia đang hoạt động (Việt Nam có 2 tổ chức). Hiện 8 nay, Việt Nam đã có 1 tổ chức quản lí nhà nước về đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng là Cục Quản lí chất lượng, trực thuộc Bộ GDĐT, có 5 tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm định chất lượng gồm 2 trung tâm kiểm định chất lượng trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh, 1 trung tâm kiểm định chất lượng trực thuộc Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam và 2 trung tâm kiểm định chất lượng trực thuộc Đại học Đà Nẵng và Trường Đại học Vinh. Các tổ chức kiểm định chất lượng này có nhiệm vụ chung nhất là kiểm định chất lượng chương trình dao tạo hoặc các cơ sở giáo dục đại học trong quốc gia mình [7]. Những nghiên cứu ở Việt Nam Mô hình đảm bảo chất lượng của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tham khảo mô hình đảm bảo chất lượng của các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới như Hoa Kì, các nước Bắc Mĩ, Châu Âu và các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.