Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG THPT THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển. Có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất kỳ một sự phát triển nào đối với con người và xã hội. Chính vì vậy, trên thế giới, không một quốc gia, dân tộc nào lại không quan tâm đến sự phát triển giáo dục.
Ở các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan trong những thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX là những bài học quý giá về tập trung đầu tư, chăm lo cho sự phát triển giáo dục. Để bù lại cho việc khan hiếm tài nguyên trong lòng đất, các quốc gia này đã lấy tiềm năng từ nguồn lực con người làm động lực chủ yếu cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc gia tăng sức mạnh từ nguồn lực con người được các quốc gia này thực hiện bằng các cuộc cách mạng trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo. Từ một nước nghèo, không có tài nguyên thiên nhiên nhưng chỉ sau 25 năm, Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia có nền kinh tế, công nghệ đứng thứ 11 thế giới.
Sự thần kỳ này có được là nhờ sự đầu tư đúng mức cho Giáo dục đồng thời là sự học tập chăm chỉ, ý chí quyết vươn lên để tự khẳng định mình của người dân Hàn Quốc. Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến Giáo dục, coi sự dốt nát (do thiếu giáo dục) là một thứ giặc và cũng nguy hiểm như giặc ngoại xâm “Giặc đói, giặc dốt là bạn đồng hành của giặc ngoại xâm”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định phải thực sự coi Giáo dục - Đào tạo 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn là quốc sách hàng đầu, toàn xã hội chăm lo đến sự nghiệp giáo dục. Vì mọi người nhận thức được: Giáo dục ngày nay được coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, là cội nguồn để “dân giàu - nước mạnh - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường. Các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Đặng Quốc Bảo đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động Dạy - Học, từ đó chỉ rõ một số biện pháp quản lý nhà trường. Một trong số các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ quản lý đi đúng mục tiêu, kế hoạch là các biện pháp kiểm tra, thanh tra, đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn nhất định. Tác giả Hà Sỹ Hồ trong cuốn Những bài giảng về quản lý trường học đã cho rằng: “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý”.
Tác giả khẳng định: “Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu” [14, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong Những khái niệm cơ bản về lý luận, quản lý giáo dục cho rằng: Quá trình quản lý diễn ra qua năm giai đoạn: chuẩn bị kế hoạch hóa, kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra; trong đó kiểm tra là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị các kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo. Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa và phát huy được các mặt mạnh đồng thời phát hiện được các lệch lạc để uốn nắn, ngăn ngừa.
Tác giả kết luận: “như vậy, theo lý luận xibecnêtic, kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý; nó giúp cho chủ thể quản lý 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý; không có kiểm tra thì không có quản lý” [21, tr. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Cuối cùng, người quản lý phải thực hiện chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra. Điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức” [17, tr.
Do vậy, vấn đề thực hiện công tác kiểm tra nội bộ (KTNB) các trường học nói chung và trường THPT nói riêng rất cần được nghiên cứu. Những lý luận về công tác kiểm tra trường THPT và thực hiện việc kiểm tra nội bộ trường THPT được áp dụng vào thực tiễn các trường THPT của Huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình sẽ giúp cho các nhà trường đánh giá được việc thực hiện nhiệm vụ và các mục tiêu kế hoạch đã định cho các năm học. Những tài liệu đã dẫn, viết về công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục của các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục là những tư liệu quý, thiết thực, giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài. Việc nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng công tác kiểm tra nội bộ trường THPT nói chung, các trường THPT Huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình nói riêng sẽ là cơ sở để đề xuất một số biện pháp phù hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra nội bộ trường THPT, góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục Quản lý: Quản lý là một thuộc tính lịch sử, là nội tại của một quán trình lao động, nó là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm ngay từ buổi bình minh của sự xuất hiện loài người. Khi con người xuất hiện thì xuất hiện quản lý con người và quản lý xã hội. Các Mác đã giải thích một cách khái quát rằng: “Bất kỳ một xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định đến việc quản lý” [28].
Các Mác cho rằng quản lý là sự xác lập tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động riêng rẽ của nó. Như vậy bản chất của quản lý là hoạt động lao động. Hoạt động này để điều khiển lao động. Đó là một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Trong quá trình đó, cả chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý đều phát triển. Như vậy, hoạt động quản lý bắt nguồn và phát triển từ hoạt động lao động của con người. Nó có ý nghĩa là hoạt động điều khiển mọi hoạt động chung, là một thành phần tất yếu của sự phát triển xã hội. Quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam về quản lý Theo giáo trình của Học viện Hành chính quốc gia (1993): Hoạt động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp của các dạng lao động trí óc, lao động chân tay, lao động nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật; tất cả liên kết bộ máy thành một thể thống nhất, điều hòa, phối hợp tất cả các khâu, các cấp quản lý cùng hoạt động nhịp nhàng để đưa đến hiệu quả cao.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý được coi là sự kết hợp của quản và lý. Quản là cai trị, coi sóc, trông nom hệ thống nào đó, đưa hệ thống đó vào thế ổn định, có trật tự. Lý là sắp xếp, tổ chức để làm cho hệ thống đó đi đến sự phát triển. Như vậy, quản lý là sự tích hợp của hai mặt: Lý và Quản, đưa nó vào một thế ổn định và phát triển” [1, tr.
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [16, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [27]. Theo Mai Hữu Khuê: “Hoạt động quản lý là một hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp của lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lý 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa, phối hợp các khâu và các cấp quản lý làm cho hoạt động nhịp nhàng đưa đến hiệu quả” [18, tr. Chúng ta hiểu rằng Quản lý là xây dựng bộ máy và cơ chế chính sách cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế, có hiệu lực thực hiện để đạt được mục tiêu.
Quản lý phải cụ thể hóa mục tiêu chiến lược thành mục tiêu kế hoạch công tác, phải giải quyết đúng công việc, phải điều hành nhân lực, vật lực, tài lực và quyền lực để đi đến kết quả. Như vậy, quản lý là một hệ thống xã hội có tính khoa học và tính nghệ thuật; là cai quản bộ máy, vạch ra mục tiêu cho bộ máy bằng tác động có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý với những phương pháp, công cụ thích hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra. Quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục (QLGD) là hoạt động có ý thức của con người nhằm thực hiện những mục đích của mình. Chỉ có con người mới có khả năng thể hiện cái nguyên mẫu lý tưởng của tương lai được thể hiện trong mục đích đang ở trạng thái khả năng sang trạng thái hiện thực.
Mục đích của Giáo dục cũng là mục đích quản lý, đây là mục đích có tính khách quan. Nhà quản lý cùng với đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội quan tâm đến giáo dục… sẽ bằng hành động của mình hiện thực hóa mục đích đó trong hiện thực.