Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học tích hợp liên môn ở trường tiểu học Chương 2: Thiết kế và tổ chức một số chủ đề liên môn cho học sinh lớp 4 Chương 3: Thử nghiệm sư phạm 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu về dạy học tích hợp liên môn ở trƣờng tiểu học 1. Một số nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, dạy học tích hợp là một cách tiếp cận trong giáo dục được đánh giá cao. Năm 1968, một Hội nghị Liên quốc gia về giảng dạy khoa học đầu tiên trên thế giới được tổ chức tại Varna, Bulgaria đã tập trung, trao đổi về khoa học tích hợp [12].
Trong hội nghị đó, khái niệm khoa học tích hợp đã được lí giải gắn với sự thống nhất giữa các lĩnh vực khoa học, dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm và quá trình học tập hình thành ở học sinh những năng lực đáp ứng với việc giải quyết các vấn đề thực tiễn xã hội Trong Hội nghị quốc tế lần thứ hai về giáo dục khoa học tích hợp được tổ chức tại Maryland, Hoa Kỳ vào năm 1973 với nội dung “Education of Teachers for Integrated Science”, dạy học tích hợp được hiểu toàn diện hơn thể hiện sự thống nhất, liên hệ giữa các lĩnh vực khoa học, tránh sự nhấn mạnh hoặc sai khác quá mức giữa các lĩnh vực khoa học. Trọng tâm cơ bản của Hội nghị này nhấn mạnh đến hai câu hỏi: “What precisely is meant by integrated science teaching?” và “How do you train teachers to teach it?”. Hội nghị quốc tế lần thứ ba về giáo dục khoa học tích hợp (Integrated science education) được tổ chức ở Nijmegen, The Netherlands vào 1978 với 250 đại biểu đến từ 60 quốc gia khác nhau đã khẳng định hơn về sự quan tâm đến vai trò của dạy học tích hợp trong giảng dạy các môn khoa học trên toàn thế giới [12]. Năm 1977, Brown đã mô tả và đưa ra 4 đặc điểm cơ bản của dạy học tích hợp bao gồm: (1) Dạy học tích hợp có sự thống nhất về kiến thức; (2) Có sự liên kết và thống nhất giữa các khái niệm khoa học; (3) Tiếp cận quá trình thống nhất của nghiên cứu khoa học; (4) Dạy học tích hợp như là một nghiên cứu liên ngành [13].
5 Năm 1994, Joglekar et al đã chỉ ra những ưu điểm vượt trội của dạy học tích hợp như: giảm sự lặp lại ở các môn học khác nhau; học sinh được vận dụng kiến thức vào thực tiễn tốt hơn và thúc đẩy sự hợp tác giữa học sinh với học sinh; học sinh với giáo viên và giữa giáo viên với nhau [20]. Tại Australia, khi nghiên cứu về dạy học tích hợp, Ross J. Todd đã khẳng định về sự khác biệt giữa nội dung dạy học thông thường với dạy học tích hợp cũng như những hiệu quả tích cực ở những lớp giáo viên tổ chức dạy học tích hợp [25]. Từ nghiên cứu này, có thể rút ra các tiêu chí và yêu cầu cơ bản của việc dạy học tích hợp: (1) Dạy học tích hợp gắn với việc học và nghiên cứu nhiều môn học khác nhau, các hoạt động học tập được thiết kế rõ ràng; (2) Nhà trường có thời khoá biểu linh hoạt; (3) giáo viên giảng dạy theo nhóm, cùng nhau xây dựng chương trình giảng dạy với sự hợp tác, cùng lập kế hoạch giữa các giáo viên; (4) Học sinh giữ vai trò trung tâm của quá trình dạy học, trên cơ sở có sự tương tác tích cực giữa HS với HS, HS với GV và GV với GV.
Sau năm 2000, các công bố nghiên cứu về dạy học tích hợp được mở rộng hơn, phần lớn các tác giả cũng đã khẳng định: dạy học tích hợp khuyến khích sự tương tác tích cực trong vai trò tham gia của học sinh [24]; hoạt động học của học sinh ở các lớp tổ chức dạy học tích hợp tạo ra những hiệu suất tích cực hơn so với các lớp tổ chức dạy học truyền thống [17]; [21]; [23]. Hiện nay, các nghiên cứu về dạy học tích hợp chủ yếu nhấn mạnh đến phương thức giáo dục STEM- mô hình tích hợp liên môn và xuyên môn. Tại Pháp, giáo dục STEM được bao phủ ở mọi cấp học. Trong giai đoạn chính của bậc Tiểu học, học sinh được học về Toán học, Khoa học tự nhiên và Công nghệ.
Học sinh đã được tham gia các hoạt động trải nghiệm nghiên cứu nhằm thúc đẩy sự quan tâm của các em về Khoa học và Công nghệ, bên cạnh đó phát triển tư duy phê phán của học sinh. Mục tiêu là nâng cao sự hiểu biết của học sinh về thế giới từ cả hai yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Từ cấp tiểu học đến THCS, học sinh được tham gia 78 giờ thí nghiệm khoa học mỗi năm. 6 Ở Malaysia, việc chuyển đổi giáo dục với nhiều chương trình đã được bổ sung vào nhà trường như: Robotics, E-learning, truyền thông đa phương tiện trong giảng dạy… Xu hướng trong giáo dục Malaysia cho thấy giáo dục tích hợp, đặc biệt là giáo dục STEM đang dần trở nên phổ biến và quan trọng hơn.
STEM có mặt ở khắp mọi nơi và định hình trong cuộc sống hàng ngày. Học sinh được tiếp xúc với giáo dục STEM sẽ có cơ hội nhận được việc làm và tiếp cận việc làm có thu nhập tốt hơn. Vì vậy, các trường học có chất lượng tốt ở Malaysia đang tiếp nhận các môn liên quan đến STEM ngày càng nhiều hơn. Một số nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, khi nghiên cứu dạy học tích hợp cho học sinh tiểu học trong bối cảnh đổi mới Chương trình và sách giáo khoa mới, Lê Trung Hiếu và Nguyễn Danh Nam cũng đã xây dựng và xác định các thành phần năng lực cơ bản của giáo viên để tổ chức dạy học tích hợp dựa trên phân tích tiêu chuẩn nghề nghiệp của giáo viên tiểu học ở Việt Nam.
Các nhóm năng lực này bao gồm: (1) Năng lực xác định mục tiêu dạy học tích hợp; (2) Năng lực lập kế hoạch dạy học tích hợp; (3) Năng lực thiết kế kế hoạch bài dạy tích hợp; (4) Năng lực ngôn ngữ trong dạy học tích hợp; (5) Năng lực hợp tác trong dạy học tích hợp; (6) Năng lực thiết kế và tạo môi trường trong dạy học tích hợp; (7) Năng lực kết nối nội dung bài học và thực tiễn; (8) Năng lực tổ chức dạy học tích hợp; (9) Năng lực đánh giá kết quả học tập trong dạy học tích hợp [19]. Từ những nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp giáo viên tiểu học nói chung, năng lực dạy học tích hợp của giáo viên tiểu học Việt Nam nói riêng, đặc biệt đặc điểm đối tượng học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, có thể xác định những yêu cầu cơ bản của giáo viên tiểu học miền núi phía Bắc khi tổ chức dạy học tích hợp gồm: (1) Hiểu biết về dạy học tích hợp; (2) Kĩ năng triển khai thực hiện dạy học tích hợp bao gồm: có kĩ năng hợp tác với đồng nghiệp và phụ huynh học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp; kĩ năng thiết kế kế hoạch bài dạy tích hợp phù hợp với thực tiễn; (3) Kĩ 7 năng tổ chức dạy học tích hợp, xây dựng không khí lớp học với sự tôn trọng, cởi mở, gần gũi; (4) Kĩ năng đánh giá kết quả học tập trong dạy học tích hợp. Bên cạnh những nghiên cứu về năng lực giáo viên khi tổ chức dạy học tích hợp, còn có nhiều nghiên cứu về việc triển khai dạy học tích hợp ở trường tiểu học. Tiêu biểu có thể kể đến các nghiên cứu như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” nêu một cách khái quát nhất và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn: “Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai thác trong mối liên hệ giữa các môn học.
Các mối liên hệ giữa các môn học, phản ánh bản chất biện chứng của nhận thức khoa học, giúp xem xét một sự vật hay một hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau [7, tr. Đặng Thành Hưng cho rằng: “Trong khoa học giáo dục còn có những bộ môn, chuyên ngành, liên môn lấy những liên hệ qua lại làm đối tượng [8, tr. Trần Bá Hoành trong “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” nhấn mạnh phương pháp tích cực trong đó đề cập vấn đề giáo dục theo mục tiêu với nội dung “liên môn” và “xuyên môn”. Ngoài ra, vấn đề trên còn được đề cập đến trong các bài báo, tạp chí giáo dục như bài viết của Nguyễn Quang Vinh “Dạy học các môn học theo quan điểm liên môn” (trên tạp chí NCGD số 10/1986), Trần Đức Minh “Vận dụng quan điểm liên môn - một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của học sinh” (trên tạp chí NCGD Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” nêu một cách khái quát nhất và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn: “Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai thác trong mối liên hệ giữa các môn học.
Các mối liên hệ giữa các môn học, phản ánh bản chất biện chứng của nhận thức khoa học, giúp xem xét một sự vật hay một hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau [7, tr. Đặng Thành Hưng cho rằng: “Trong khoa học giáo dục còn có những bộ môn, chuyên ngành, liên môn lấy những liên hệ qua lại làm đối tượng [8, tr. Trần Bá Hoành trong “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” nhấn mạnh phương pháp tích cực trong đó đề cập vấn đề giáo dục 8 theo mục tiêu với nội dung “liên môn” và “xuyên môn”. Ngoài ra, vấn đề trên còn được đề cập đến trong các bài báo, tạp chí giáo dục như bài viết của Nguyễn Quang Vinh “Dạy học các môn học theo quan điểm liên môn” (trên tạp chí NCGD số 10/1986), Trần Đức Minh “Vận dụng quan điểm liên môn - một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của học sinh” (trên tạp chí NCGD số 4/1999).
Mỗi bài viết tuy chỉ nghiên cứu sâu một khía cạnh của vấn đề, nhưng đều khẳng định sự cần thiết và nêu rõ vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng bộ môn. Dạy học tích hợp liên môn ở trƣờng tiểu học 1. Tích hợp và dạy học tích hợp Tích hợp là sự phối kết các tri thức thuộc một nhóm môn học có sự tương đồng vào một lĩnh vực chung.