Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên tại các trường trung học phổ thông Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Kon Tum Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Kon Tum. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN TẠI CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý giáo dục, quản lý HĐDH nói chung và quản lí HĐDH các môn KHTN nói riêng là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm.
Sau đây là một số nghiên cứu về vấn đề này ở một số nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Quan điểm quản lý HĐDH theo tiếp cận năng lực người học được hình thành và phát triển rộng khắp tại Nga vào những năm 1970 trong phong trào đào tạo và giáo dục, các nhà GD&ĐT nghề dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ, các tiếp cận về năng lực đã phát triển mạnh mẽ trên một nấc thang mới trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ quốc gia ở Mỹ, Anh, Úc, Xứ Wales. Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận năng lực là cách thức có ảnh hưởng nhiều nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng giáo dục và quá trình dạy học, là cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” và là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với những vấn đề mà các nhà trường, cá nhân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ XXI .Rodger: “Tiếp cận năng lực trong dạy học, tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì học sinh dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được” [29]. Marzano trong cuốn nghệ thuật và khoa học dạy học cho rằng: HĐDH có thành công hay không tùy thuộc nhiều vào năng lực của người GV.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực đòi hỏi người GV phải lấy khả năng sáng tạo kiến thức của người học làm mục tiêu của giáo dục. Ông phê phán quan điểm dạy học áp dụng một PPDH cho mọi đối tượng HS [28]. Các tác giả người Nhật Eisuke Saito, Masatsugu Murase, Atsushi Tsukui, Manabu Sato, Masaaki Sato cũng là những người đi tiên phong trong lĩnh vực giáo dục định hướng phát triển năng lực người học. Họ đều nhấn mạnh tầm nhìn của Nghiên cứu bài học vì cộng đồng học tập là: đảm bảo cơ hội học tập với chất lượng cao cho tất cả HS, cơ hội học tập cho tất cả GV để phát triển thành những GV chuyên nghiệp và cơ hội học tập cho phụ huynh cùng cộng đồng địa phương [31].
Nghiên cứu bài học vì cộng đồng học tập được xây dựng dựa trên ba nguyên lí, đó là: “nguyên lí công” - giáo viên công khai bài học của mình cho đồng nghiệp dự; “nguyên lí dân chủ” như là một cách sống liên kết giữa những người có xuất thân khác nhau và “nguyên lí xuất sắc” - 6 mưu cầu chất lượng học tập cao hơn. Mô hình đổi mới nhà trường này có thể thực hiện được nhờ ba hệ thống hoạt động: (1) học tập cộng tác giữa học sinh, (2) học tập chuyên môn của GV thông qua việc cùng nhau dự giờ, suy ngẫm về bài học và (3) sự tham gia của phụ huynh cùng cộng đồng địa phương vào quá trình của bài học [19]. Các kết quả nghiên cứu về xây dựng cộng đồng học tập trong nhà trường của các tác giả trên đã được phổ biến rộng rãi ra nhiều nước trong đó có Việt Nam. Dạy học tích hợp (integration teaching) cũng là hình thức dạy học theo định hướng phát triển (ở người học) năng lực huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng,.
thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong qúa trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện các kĩ năng. Các nước có nền giáo dục tiên tiến đã ứng dụng vào trường học phổ thông và có những thành quả vượt trội so với HĐDH truyền thống. Tuy nhiên, sự xuất hiện thuật ngữ dạy học tích hợp mới chỉ được “khai thác” rộng rãi trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu XXI. Theo Xavier Roegiers “Dạy học tích hợp phải dựa trên cơ sở nền tảng kiến thức trước đó của HS, quá trình tổ chức dạy học tích hợp là quá trình đưa HS gần với thực tế cuộc sống nhất.
Đây là quá trình góp phần hình thành năng lực của người học một cách rõ ràng nhất"[30]. Bản chất của dạy học quan điểm của Xavier Roegier tích hợp là “phương pháp” khi dạy tích hợp bắt buộc phải sử dụng kiến thức liên môn, đây là một cấu trúc thống nhất trong một chỉnh thể được xác định trước nhằm hướng tới việc phát triển năng lực của của người học và đưa người học xích lại gần hơn với cuộc sống. Nếu nhà trường dạy học dựa trên khái niệm căn bản của môn học thì sẽ làm cho HS khó có sự kết nối từ các lĩnh vực tri thức khác nhau nhằm giải quyết nhiệm vụ của cuộc sống. Theo ông hiện tượng dạy học này sẽ dẫn đến sự “mù chức năng” trong học tập của HS nếu không có sự quản lý tốt các bước thiết kế chương trình và thực hiện HĐDH của GV.
Tóm lại, Các nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy trong hệ thống tri thức của nhân loại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin khoa học, giáo dục cần có bước chuyển mình mạnh mẽ, mô hình giáo dục theo hướng tiếp cận nội dung không còn phù hợp nữa, giáo dục buộc phải thay đổi cách tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực. Và trên thực tế cũng như trong lý luận, nhiều tác giả ở nước ngoài đã nghiên cứu HĐDH và quản lý HĐDH theo định hướng phát triển năng lực người học để tìm ra biện pháp quản lý hiệu quả. Các nghiên cứu ở Việt Nam Quản lý HĐDH nói chung và quản lý HĐDH các môn KHTN nói riêng theo định hướng phát triển năng lực HS trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học đã và đang được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm trong nhiều năm qua. Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý HĐDH theo định hướng phát triển năng lực HS trong nhà trường phổ thông.
Nghiên cứu về Giáo dục phát triển năng lực sáng tạo, tác giả Trần 7 Thị Bích Liễu cho rằng: Chất lượng giáo dục không chỉ đơn thuần là kiến thức khoa học mà còn là sự phát triển tiềm năng của người học, đặc biệt là năng lực sáng tạo. Có nhiều thay đổi diễn ra trong chương trình giáo dục và công tác giảng dạy, xác định mục tiêu phát triển nền kinh tế tri thức là phát triển toàn diện con người về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, chú trọng các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo. Để có một nền giáo dục sáng tạo cần có một nhà trường sáng tạo do các GV sáng tạo giảng dạy và do những người lãnh đạo sáng tạo lãnh đạo[21]. Nghiên cứu về Đổi mới giáo dục và tổ chức các hoạt động dạy học để phát triển năng lực, phẩm chất người học, tác giả Trịnh Văn Biều và Trần Thị Ngọc Hà đã chỉ rõ sự khác biệt giữa dạy học định hướng nội dung và dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học ở 6 phương diện: mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức, KTĐG và sản phẩm [2].
Nghiên cứu về Một số vấn đề đổi mới giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hiện nay tác giả Phạm Văn Thực cho rằng: Để đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT nhằm hướng tới một nền giáo dục phát triển, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cần xây dựng định hướng giáo dục trong giai đoạn cụ thể trên cơ sở tham khảo giáo dục của các nước trên thế giới [24]. Tác giả Lưu Hồng Uyên trong nghiên cứu của mình cũng đã nhấn mạnh: Việc chủ động xây dựng kế hoạch quản lí dựa trên tình hình thực tế của mỗi trường sẽ tạo điều kiện đảm bảo cho thành công của kế hoạch. Bằng việc tuân thủ kế hoạch, công tác quản lí sẽ thuận lợi, ít gặp những tình huống khó khăn, giúp nâng cao năng lực của cán bộ quản lí trong nhà trường [26]. Khi trao đổi về nhận thức quản lý HĐDH theo định hướng phát triển năng lực HS, tác giả Nguyễn Gia Cầu đã chỉ rõ: quản lý HĐDH theo định hướng phát triển năng lực HS là một khoa học.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý HĐDH theo định hướng phát triển năng lực HS là quá trình sư phạm, quá trình dạy học - một quá trình tổng hợp của nhiều khâu, nhiều yếu tố và trong đó sự tương tác của GV-HS, HS-HS có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự thành công của dạy học, giáo dục. Trong quá trình thực hiện quản lý HĐDH theo định hướng phát triển năng lực HS yếu tố kinh nghiệm giảng dạy của GV là không thể thiếu, có vai trò quan trọng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở kinh nghiệm mà không dựa vào những căn cứ khoa học những tiền đề lí luận thì kết quả của quá trình dạy học cũng hạn chế [9]. Nghiên cứu về “Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên xã hội theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học huyện cần giờ TP HCM” của tác giả Lê Hữu Bình đã nêu ra thực trạng việc quản lý chương trình, kế hoạch dạy học; quản lý hoạt động dạy, hoạt động học; quản lý KTĐG; quản lý điều kiện dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh; nêu những gợi ý quan trọng cho CBQL các trường 8 xem xét đánh giá và có các biện pháp quản lý cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế mỗi trường nhằm nâng cao chất lượng HĐDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh [3].