Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan các nghiên cứu về giáo dục hƣớng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh 1. Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Hiện nay khi nền kinh tế phát triển ngày càng cao thì yêu cầu người lao động phải có trình độ chuyên môn vững và có một nghề nhất định. Một quốc gia phát triển thì nền kinh tế phát triển và đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng, chính vì vậy vai trò của GDHN trong định hướng và phân hóa lao động một cách hợp lý là vô cùng cần thiết và quan trọng. Suốt thế kỉ 20 và đầu thập kỉ thế kỉ 21, giáo dục hướng nghiệp phát triển rộng rãi trong môi trường giáo dục.
Ngoài bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia, GDHN ở hầu hết các nước đều xuất hiện các vấn đề cần làm rõ chung cả lí luận và thực tiễn nhằm tìm ra con đường khả thi và hiệu quả cho hoạt động GDHN. Năm 1937, Keller và Viteles đưa ra cái nhìn tổng quát về hướng nghiệp, có sự so sánh giữa các quốc gia ở Châu Âu, châu Á. Ở một số quốc gia, các thuật ngữ như “hướng dẫn nghề - vocational guidance”, “tư vấn nghề - vocational counselling”, “thông tin, tư vấn và hướng dẫn – information, advice ad guidance” đều chỉ các hoạt động tư vấn và HN [14]. Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục của UNESCO, Jacques Delors khi phân tích những trụ cột của giáo dục toàn cầu đã viết: “Học để biết, học để làm việc, học để làm người và học để chung sống với nhau”.
Kết quả của giáo dục phải được thể hiện rõ ở thế hệ trẻ năng lực “sống – làm việc – phát triển”. Theo tác giả vấn đề học nghề phổ thông là một căn bản không thể thiếu được, tác giả đã nhấn mạnh: HS sẽ có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học, hỗ trợ cho việc học. Trên thế giới hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kĩ thuật và dạy 6 nghề (vocational and technical education and training – TVET) bên cạnh hệ phổ thông và đại học (tertiary). UNESCO dùng cụm từ technical and vocational education–TVE để chỉ hệ thống này.
Một số nước, ví dụ như Anh chỉ gọi là vocational education and training – VET; nước Đức có một hệ thống đào tạo nghề và trung cấp chuyên nghiệp (Berufs – und Fachulausbildung) về mặt trình độ một bộ phận được xếp vào bậc trung học tương đương với trung học phổ thông từ lớp 9 đến lớp 13, một bộ phận cao hơn vào bậc sau trung học. Tác giả Quang Dương ở Viện nghiên cứu GD-ĐT phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, với đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý HS phổ thông trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và bước đầu xây dựng bộ trắc nghiệm HN và chọn nghề”. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tâm lý chọn nghề của HS lúc này chủ yếu chạy đua vào các trường ĐH và đa phần chọn nghề theo cảm tính [dẫn theo 25]. Tác giả Lê Vân Anh với nghiên cứu “vấn đề phân luồng HS ở nước ta” đã đề cập nội dung phân luồng HS trên phạm vi cả nước và ở một số quốc gia trên thế giới gắn với thực tiễn phân luồng HS ở nước ta; đặc biệt có nhiều giải pháp về nhận thức xã hội có liên quan đến phân luồng HS sau THCS, tính liên thông… [dẫn theo 30] Tác giả Hà Thế Truyền, với đề tài “Một số biện pháp thực hiện GDHN- dạy nghề góp phần thực hiện tốt việc phân luồng trong đào tạo” có nội dung HS sau THCS đi vào các luồng: vào THPT, vào TCCN, vào các trường dạy nghề dài hạn, học nghề ngắn hạn, học tại các trung tâm GDNN-GDTX, tham gia vào thị trường lao động.
Đề tài nghiên cứu về các giải pháp phân luồng học sinh, công tác HN nâng cao nhận thức xã hội, đa dạng hóa các loại hình trường lớp, điều tiết phân luồng học sinh bằng các chính sách đãi ngộ, chính sách sử dụng sau đào tạo trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Đề tài này đã nêu được một số vấn đề chung về thực trạng phân luồng học sinh sau THCS ở nước ta [dẫn theo 30]. Tác giả Nguyễn Như Ất trong tài liệu “Vấn đề phương pháp luận xây dựng nội dung GDHN trong trường phổ thông Việt Nam” đã nghiên cứu xác định lại cơ sở triết học của giáo dục Việt Nam nói chung, trong đó có GDHN [1]. Tác giả Phan Thị Tố Oanh khi nghiên cứu đề tài: “Vấn đề hướng nghiệp cho HS qua các môn văn hóa cơ bản ở trường THPT các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” đã 7 phân tích vai trò của môn văn hóa cơ bản có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc phát triển toàn diện nhân cách con người và tiềm năng của nó trong GDHN cho HS ở trường phổ thông.
Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số biện pháp hướng nghiệp qua dạy học các môn văn hóa cơ bản [dẫn theo 36]. Tác giả Phạm Văn Khanh khi nghiên cứu đề tài: “GDHN trong dạy học các môn khoa học tự nhiên ở trường THPT khu vực Trung Nam Bộ” đã đề xuất một hệ thống biện pháp bồi dưỡng, chuyển giao quy trình GDHN cho giáo viên, nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả GDHN cho HS trong dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường THPT khu vực Trung Nam bộ [dẫn theo 27]. Tác giả Trịnh Văn Cường đã nghiên cứu luận án với đề tài “Giáo dục hướng nghiệp cho HS trong dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông”. Trong luận án, tác giả đã phân tích làm rõ tiềm năng, ưu thế của môn Công nghệ trong việc giáo dục hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông và đã xác định cụ thể các nội dung giáo dục hướng nghiệp có thể tích hợp, lồng ghép trong môn Công nghệ; Xác định các nguyên tắc tích hợp giáo dục hướng nghiệp cho HS trong dạy học môn Công nghệ; Quá trình GDHN (đối tượng, nguồn lực, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức và kết quả) GDHN cho HS trong dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông cũng như mối liên hệ các thành tố cấu trúc của quá trình GDHN cho HS trong dạy học môn Công nghệ nhằm đạt được mục tiêu GDHN; Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến GDHN.
Phát hiện và đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho HS trong dạy học môn Công nghệ ở các trường trung học phổ thông vùng Đông Bắc Việt Nam và xác định được nguyên nhân, hệ quả của thực trạng trên. Theo đó đề xuất 07 biện pháp nhằm thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho HS trong dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông. Hướng nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp tích hợp với dạy học môn học hay hoạt động giáo dục khác ở trường THPT là hướng triển khai phù hợp với yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới [14]. Nhìn chung GDHN ở Việt Nam một số năm vừa qua đã từng bước được củng cố và phát triển về quy mô và cơ cấu đào tạo.
Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và 8 xu thế toàn cầu hóa cũng như hội nhập quốc tế. GDHN nước ta còn có nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt là về chất lượng đào tạo và đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Những nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Các tác giả nước ngoài Keller và Viteles trong quá trình bàn về hướng nghiệp và GDHN cấp trung học đều khẳng định: Quản lý GDHN là một nội dung quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý GDHN để đạt mục đích GDHN. Nội dung quản lý GDHN là xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động GDHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ hoạt động GDHN.
Một trong những khâu quan trọng của việc quản lý GDHN chính là tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN ở các trường THPT. Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục [23]. Vấn đề QL hoạt động GDHN cho HS phổ thông trong những năm qua cũng đang là mối quan tâm nghiên cứu của rất nhiều Nhà khoa học, Nhà GD và các Nhà QLGD, có thể nêu một số đề tài như: Luận văn của tác giả Huỳnh Thị Tam Thanh nghiên cứu với đề tài, “QL công tác hướng nghiệp cho HS bậc trung học tại các Trung tâm GD thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Thực trạng và giải pháp”, Ở đề tài này tác giả tập trung làm rõ thực trạng QL công tác HN cho HS tại các trung tâm GD thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường việc QL công tác này. Đề tài còn khảo sát về thực trạng phân luồng HS sau bậc trung học, sự bất cập về tỉ lệ lao động kỹ thuật trong tổng số lao động, sự không phù hợp về trình độ trong cơ cấu lao động, việc tổ chức và QL công tác HN chưa đồng bộ của thành phố Đà Nẵng… Tuy vậy, cơ sở lý luận đề tài chưa đáp ứng cho việc giải quyết sâu sát các nội dung của thực trạng, như phần lý luận chưa nêu rõ tính chất HN trong nhà trường 9 phổ thông đối với từng cấp học, chưa chỉ rõ mục đích, phương hướng và nhiệm vụ GDHN trong trường THPT cho từng thành viên của nhà trường [dẫn theo 40].