phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương: 3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chương l: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của sinh viên cao đẳng theo học chế tín chỉ. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ. 4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Về đào tạo theo học chế tín chỉ C ngày một tăng nhanh đã lực , từ đó h học có căn cứ để tuyển sinh to lớn , hệ thống tín chỉ đã thâm nhập vào các trường đại học, dần dần trở thành phương thức đào tạo chính thức, thay thế cho các phương thức đào tạo truyền thống đã có ở các trường đại học và cao đẳng. , Row, Piper và West (1969) cho rằng có ba giai đoạn: - Giai đoạn 1 (1873 - dục đại học. 40 quốc gia châu Âu từ những năm 1960.
, bao gồm giờ , xêmina, tự học,. bằng cử nhân là 120 - 140. 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Ở Pháp, sử dụng đơn vị tín chỉ để đo khả năng hoàn thành việc học tập của sinh viên cho các. Ở Anh áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ, đồng thời với việc môđun hóa chương trình đào tạo đại học.
hướng tới một “xã hội tri thức”, khuyến khích sự linh hoạt trong mối quan hệ đào tạo giữa các trường đại học. , năm 1992 “Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu” (European Credit Transfer System - đã thu hút sự tham gia của nhiều trường đại học, nhiều ngành khoa học. Ở Châu Á, học chế rộng rãi các nước Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipine, Trung Quốc, Việt Nam. , người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động học tập nhu cầu của thị trường lao động.
Ở nước ta, trước năm 1975 một số trường đại học ở miền Nam đã áp dụng học chế tín chỉ như Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức. Từ năm học 1993 -1994 một số trường đại học như: Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thăng Long; Đại học Xây dựng Hà Nội,…. đã đào tạo theo học chế tín chỉ, bước đầu đã thu được những quả nhất định. phương , Bộ Giáo dục và Đào tạo cho triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ ở tất cả các trường đại học trong cả nước.
Tuy vậy, cho đến nay chưa một nào có hệ thống về đ , nếu có là những chất , hay đào tạo theo học chế tín chỉ ở các cuộc hội mà thôi. 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Về vấn đề quản lý học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ Vấn đề học tập của học sinh, sinh viên, vấn đề quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên nói chung từ lâu đã được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Các công trình nghiên cứu đã làm rõ bản chất của quá trình học tập, mục tiêu quản lý hoạt động học tập, đã đề xuất được những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, các nhà trường, các địa phương áp dụng vào thực tế đã đem lại những hiệu quả nhất định.
Trong các trường đại học sư phạm trong khoảng 10 năm gần đây đã có nhiều luận văn thạc sĩ bàn về biện pháp quản lý học tập của học sinh, sinh viên, điển hình như: - “Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT chuyên” do Bùi Thị Tuyết Hồng thực hiện năm 2003. - “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên ” của tác giả Phạm Chí Cường, thực hiện năm 2004. - “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng Sư phạm Trà Vinh ” của tác giả Võ Hoàng Khải thực hiện năm 2006. - “Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh tại trường trung học Kinh tế - Kỹ thuật Quảng Nam ” của tác giả Phạm Thị Lan thực hiện năm 2006.
Từ nhiều góc độ khác nhau, các tác giả đã phân tích bản chất, đặc trưng của hoạt động học tập, bàn luận về các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh, sinh viên trong các nhà trường. Hiện nay ở các trường đại học, cao đẳng đang tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, sự kiện này đánh dấu một bước phát triển của giáo dục đại học Việt Nam. Đào tạo theo học chế tín chỉ tạo ra sự thay đổi lớn về thói quen và phương pháp dạy - học của người dạy lẫn người học. Theo hình thức đào tạo 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ này, số lượng giờ nghe giảng trên lớp giảm đi, mà ngược lại tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình đào tạo.
Tuy nhiên, ở nước ta việc nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ vẫn còn là vấn đề mới mẻ, cho đến nay chưa có m. Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên cũng đang chuyển đổi từ hình thức đào tạo theo niên chế học phần sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, cần có một đề tài nghiên cứu cơ bản, đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với đặc điểm của nhà trường 1. Khái niệm công cụ 1. Tín chỉ - Credit Tín chỉ là khái niệm mới được sử dụng trong đào tạo ở nước ta, vì vậy cho đến nay ở các trường đại học có nhiều định nghĩa khác nhau: - : “Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: học tập trên lớp, học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); và tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.
- Theo trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh: “Tín chỉ là một đơn vị dùng để lượng hoá khối lượng làm việc bắt buộc đối với một sinh viên để đạt được các yêu cầu của các hoạt động giảng dạy và học tập. Một tín chỉ được quy định bằng một giờ lý thuyết trong một tuần trong suốt học kỳ, hoặc 2 đến 3 giờ bài tập, thực hành và thời gian tự học cần thiết theo ước lượng chung của trường‟‟. 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ - Học viện Tài chính định nghĩa: “Tín chỉ là đại lượng xác định khối lượng kiến thức, kĩ năng (trung bình) mà sinh viên tích lũy được từ học phần trong 15 giờ tín chỉ (cùng loại hoặc khác loại), được thực hiện mỗi tuần 01 giờ tín chỉ và kéo dài trong một học kì gồm 15 tuần”. - Theo Quy chế đào tạo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội thì: “Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên.
Một tín chỉ được qui định bằng 15 tiết chuẩn, cụ thể như sau: Một tiết chuẩn tương đương với 01 tiết lí thuyết hoặc 02 tiết bài tập, thực hành hoặc 03 tiết thảo luận. Tỉ lệ số tiết lí thuyết, bài tập, thực hành và thảo luận. Đối với các học phần có cả lý thuyết, thảo luận và thực hành: tổng số tiết lên lớp sau khi quy đổi là 20 tiết. Để tiếp thu 01 tín chỉ sinh viên cần 30 giờ tự học, tự nghiên cứu”.
- Theo James Quann Đại học Washington: “ chuẩn bị bài. Đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là mộ , thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần”. (Bản dịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo) - Theo Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: “Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, 45-90 giờ thực tập tại cơ sở, 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp.
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được 1 tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” [3] 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Như vậy, tín chỉ là một đơn vị chuẩn dùng để lượng hoá thời gian làm việc của sinh viên trong quá trình đào tạo, bao gồm 3 yếu tố: thời gian thu , thời gian , thời gian tự học của mỗi sinh viên cho một môn học và nó được thực hiện trong cả khóa đào tạo. Đào tạo theo học chế tín chỉ 1. Đào tạo Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách”.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và có hiệu quả.