Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học cơ sở. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên các trường trung học cơ sở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên các trường trung học cơ sở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Giáo viên có vai trò quan trọng trong việc quyết định nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Do đặc điểm nghề nghiệp, giáo viên phải thường xuyên tự bồi dưỡng và được bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay nghề, đạo đức và kiến thức toàn diện nhằm nâng đáp ứng yêu cầu xã hội.
Bởi vậy các nước đều crú trọng đến đào tạo, bồi dưỡng GV có đủ năng lực thích ứng với sự thay đổi, cải cách giáo dục phổ thông. Nhìn chung, cứ 5 đến 10 năm các nước lại tiến hành đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Việc đổi mới nhanh chóng này dẫn đến việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ GV diễn ra thường xuyên, liên tục ở tất cả các nước. Tuy nhiên, mỗi nước có những cách thức riêng trong việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực GV.
Ở Singapore, chính phủ quan tâm đến việc bồi dưỡng GV bằng cách ấn định kinh phí công tác bồi dưỡng GV hàng năm và định mức kinh phí cụ thể cho từng nội dung bồi dưỡng. Căn cứ vào trình độ hiện tại của từng GV (theo quy định của văn bằng, chứng chỉ) các nhà trường rà soát những nội dung còn thiếu và cấp kinh phí trực tiếp cho GV để bồi dưỡng. GV sau khi hoàn thành chương trình bồi dưỡng phải trình chứng chỉ bồi dưỡng theo nội dung và thời gian đã đăng ký [19]. Ở Hàn Quốc, việc BDTX cho giáo viên là bắt buộc.
Bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cho giáo viên lý luận và phương pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng và hiệu quả giảng dạy trong lớp học. Mỗi chương trình bồi dưỡng thường kéo dài 182 giờ. Các chương trình bồi dưỡng 8 được thiết kế riêng cho từng đối tượng. Chương trình cũng được phân loại cho phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: bồi dưỡng về soạn thảo chương trình giảng dạy; đào tạo số hoá thông tin, dữ liệu; bồi dưỡng chung; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm,.
Những người thực hiện chương trình này sẽ quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khoá bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến những kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới [14]. Ở Nhật Bản, có quy chế bắt buộc bồi dưỡng hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề. GV đương nhiệm được bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức đổi mới, đa dạng.
Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể hiện qua lương, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lương dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần [15]. Nhìn chung nhiều nước trên thế giới quan tâm đến hoạt động bồi dưỡng GV và có hệ thống bồi dưỡng GV từ trung ương đến địa phương. Hình thức bồi dưỡng GV tuỳ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, xây dựng quy trình phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV.
Các nghiên cứu trong nước Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục nói chung và người thầy nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục” [18, tr184]. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng sự phát triển GD nhằm tạo động lực phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng GV có những chuyển biến tích cực nhằm dần dần chuẩn hoá đội ngũ này.
Trong các nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng GV nói chung, BDTX cho đội ngũ GV nói riêng của các nhà khoa học, có một số đề tài nghiên cứu như: “Vấn đề giáo viên - Những nghiên cứu lí luận và thực tiễn” của Trần Bá 9 Hoành (2006) [17], đã dành một phần lớn nói về công tác đào tạo BDGV ở Việt Nam cũng như những kinh nghiệm nước ngoài về đào tạo, bồi dưỡng GV ở một số nước châu Á, Đông Nam Á và ở Anh; gần đây có đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông” (Mã số: 01-2010) của Nguyễn Thị Bình (2012) [3]; Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông trong thời kì CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, (Đề tài NCKHGD cấp Bộ, Mã số B20011-17-CT01 của Phan Trọng Ngọ (2011) [24]; Nghiên cứu giải pháp đổi mới quản lý đào tạo giáo viên ở các trường ĐHSP, Đề tài NCKHGD cấp Bộ, Mã số B2001-17-CT05 của Phạm Quang Huân (2011) [18]. Đặc biệt, các nghiên cứu của các tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến trong cuốn sách “Đổi mới đào tạo giáo viên trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam” (NXBGD 2013) [28] đã phân tích xu thế và một số mô hình đổi mới, cải cách đào tạo GV trên thế giới đồng thời đưa ra những đổi mới đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở Việt Nam theo định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó có khá nhiều luận văn thạc sĩ QLGD nghiên cứu về vấn đề này. Có thể dẫn ra một số luận văn tiêu biểu: Phùng Thanh Kỳ, “Một số giải pháp tăng cường quản lý bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ giáo viên THCS Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” (1998); Nguyễn Văn Chính, “Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông huyện Thanh Oai - Hà Nội theo hướng chuẩn hóa” (2011); Dương Văn Đức, “Những biện pháp quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay” (2006); Nguyễn Lương Hằng, “Biện pháp quản lý đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” (2008); Ngô Anh Hải, “Biện pháp quản 10 lý công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên các trường THPT tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” (2012); Nguyễn Thị Nguyệt Quế, “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV của Hiệu trưởng các trường THCS thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh” (2010); Lưu Thị Thơm, “Biện pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở thành phố Sơn La tỉnh Sơn La” (2010); Trương Thị Thảo.
Tại Trường Đại học Quy Nhơn trong chương trình đào tạo thạc sĩ về QLGD có một số luận văn nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể ra một số luận văn như: Hoàng Hải, “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường THCS huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” (2016); Nguyễn Hồng Minh Thương, “Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” (2016); Hoàng Ngọc Tố Nương, “Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đội ngũ giáo viên các trường tiểu học huyện Tuy Phước - Bình Định” (2018); Đinh Việt Anh, “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông” (2019); Nguyễn Bá Dũng, “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên các trường tiểu học huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” (2019). Các luận văn này đã phân tích được thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng vùng, miền trên địa bàn từng tỉnh, thành phố và giai đoạn triển khai. Như vậy, nghiên cứu về đổi mới đào tạo, bồi dưỡng GV đã có khá nhiều công trình đi sâu nghiên cứu.
Nhưng riêng về lĩnh vực quản lý BDTX cho GV các trường THCS thì chưa có nhiều công trình đề cập tới. Một số giải pháp bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu đổi mới nền giáo dục của Nguyễn Đức Vũ [32]. Nghiêm Đình Vỳ trong bài viết trên tạp chí Tuyên 11 giáo số 11 ngày 23/3/2014 nêu rõ: “Việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phải đi theo hướng mở, cần phải được nhìn nhận như một hệ thống mở và một quá trình phát triển liên tục. Hiện nay việc đào tạo giáo viên mới chỉ quan tâm chủ yếu ở trường sư phạm, nghĩa là đào tạo ban đầu, các giai đoạn sau như tập sự, đến đào tạo tại chức để nâng cao bằng cấp và bồi dưỡng thường xuyên, giáo viên tham gia vào các hoạt động xã hội ít được quan tâm”; “Xác định yêu cầu bồi dưỡng nhà giáo là nhiệm vụ chiến lược của ngành trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ.
Nhà giáo có quyền lợi và trách nhiệm được bồi dưỡng nâng cao trình độ. Hoàn thiện chế độ tập huấn bồi dưỡng giáo viên, dự trù kinh phí thường xuyên, đưa kinh phí bồi dưỡng giáo viên vào dự toán của chính quyền; thực hiện 1 năm hay 3 năm một lần tập huấn cho toàn thể giáo viên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghề nghiệp và năng lực dạy học cho giáo viên ” [31]. Trong bài viết: “Vấn đề bồi dưỡng GV phổ thông hiện nay - Thực trạng và giải pháp” (Tạp chí Giáo dục & Xã hội tháng 10/2013) Phạm Thị Kim Anh nói về thực trạng bồi dưỡng GV phổ thông hiện nay từ nội dung đến cách tổ chức, hình thức, phương pháp bồi dưỡng; nêu ra những kết qủa đã đạt được cũng như chỉ rõ những bất cập, hạn chế, yếu kém của công tác bồi dưỡng GV, từ đó đưa ra những biện pháp đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng GV [1]. Ngoài ra, bài viết “Một số vấn đề về phương thức bồi dưỡng thường xuyên giáo viên phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy [29].
Bài viết “Cần đổi mới cách tập huấn, bồi dưỡng GV” của tác giả Thanh Bình - Quảng Ngãi [30] cũng đã đề cập sâu đến vấn đề bồi dưỡng GV ở các góc độ khác nhau nhưng chưa bàn sâu vào vấn đề bồi dưỡng giáo viên THCS và quản lý công tác này.