Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƢỜI HỌC 1. SƠ LƢỢC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Trên thế giới Tƣ tƣởng về tính tích cực của ngƣời học đã có từ lâu. Ngay từ thời cổ đại, các nhà sƣ phạm lỗi lạc đã đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề và đã bàn nhiều đến biện pháp phát huy tính tích cực của ngƣời học.
* Ở Trung Hoa, Khổng Tử (551-479 TCN) phƣơng pháp chân chính của dạy học là: khải phát (gợi mở). Ông xem trọng việc tự học, tự luyện, tự tu thân, kết hợp học với thực hành, phát triển hứng thú, động cơ, ý chí của ngƣời học. * Ở Ấn Độ : phƣơng pháp học có khác biệt theo môn, học sinh đóng góp thảo luận tức đƣợc phép đặt câu hỏi và Thầy giải thích, sử dụng phƣơng pháp thuyết trình. Sophist giáo dục diễn thuyết.
PPGD với phƣơng pháp trực tiếp, thực tế và thành công. Diễn thuyết trƣớc mọi ngƣời về các đề tài, sau diễn thuyết là đối thoại. Hai phƣơng pháp áp dụng là nghệ thuật lý luận và tài hùng biện thuyết phục. Ông thƣờng cùng học trò dùng “phương pháp tiêu dao”, vừa đi chơi, vừa đàm đạo, trao đổi và gợi mở để học trò tự đi đến kết luận.
Phƣơng pháp đàm thoại, đối thoại, thảo luận, phê bình. Ông đặt câu hỏi và môn đệ trả lời. Sau đó ông nhận định trả lời và vạch ra điều hay điều dở. Plato (427 – 347 TCN) PPGD dựa trên căn bản lý luận.
Lý luận chính xác để loại bỏ sai lầm, hồ đồ. Đối thoại tìm chân lý. Isocrates (436 – 338 TCN) – Giáo dục lý luận. Phƣơng pháp tranh luận.
Giáo dục lý luận thực tế và đa dạng. Phƣơng pháp lý luận khúc chiết gãy gọn. Vào thời kỳ giáo dục Trung Đại, ảnh hƣởng giáo dục tôn giáo Ky tô giáo, khoa học kỹ thuật tiến bộ Hồi giáo nhƣng phƣơng pháp giảng dạy vẫn không gì tiến bộ mới hơn so với PPGD thời cổ đại, Phƣơng pháp chủ yếu vẫn là đọc, học thuộc lòng, ghi nhớ, chép, sƣu tầm bản thảo. 6 Luan van Giáo dục thời phục hƣng: giáo dục Châu Âu thời phục hƣng là giáo dục nhân văn, khoa học.
Phƣơng pháp giáo dục: Giáo viên giải thích qua sách giáo khoa, thảo luận, giải đáp thắc mắc và học sinh làm bài thi. Thời kỳ Phục hƣng cuối Trung đại chứng kiến sự chuyển hƣớng giáo dục với triết lý và mục đích mới. Thời kỳ này, Châu Á bắt đầu ảnh hƣởng Tây phƣơng. Các cuộc cải cách sƣ phạm ở châu Âu từ cuối thế kỷ 17 cho tới thế kỷ 19, đặc biệt là việc thành lập trƣờng Thực nghiệm ở Đại học Chicago (1896) đã thai ngén phong trào Giáo dục Tiến bộ (có tài liệu gọi là phong trào Tân giáo dục).
Đây là một phong trào đƣợc Hermann Rohrs gọi là “một phản ứng chống lại hệ thống giáo dục truyền thống hạn hẹp và hình thức” diễn ra ở châu Âu và Mỹ từ cuối thế kỷ 19. Cũng theo Hermann, thì một trong những mục tiêu chính của phong trào xung quanh việc thông qua giáo dục để phát triển toàn diện trẻ em cả về thể chất, trí tuệ và tâm hồn. Các mô hình trƣờng học trong đó trẻ em tham gia tích cực và chủ động vào việc học tập và đƣợc tiến hành chủ yếu thông qua làm việc. Theo lý thuyết của các nhà giáo dục tiến bộ, trẻ em sẽ học tập tốt nhất thông qua việc thực hiện cụ thể các nhiệm vụ đề ra đi kèm với việc học.
Các môn học về sáng tạo nhƣ nghệ thuật, thủ công đƣợc chú trọng nhằm kích thích trẻ phát triển tƣ duy sáng tạo. Và theo John Dewey, một nhà giáo dục có ảnh hƣởng nhất tới thuyết Tiến bộ, “lớp học phải là một mô hình dân chủ”. Các học giả thuộc trƣờng phái này cho rằng “giáo dục phải dựa trên nguyên lý cho rằng con người là động vật mang tính xã hội có khả năng học tốt nhất từ những hoạt động sống thực diễn ra với người khác”. Theo quan điểm nhân bản này, một ngƣời GV theo trƣờng phái tiến bộ mong muốn không chỉ cung cấp kỹ năng đọc và luyện tập, mà còn cả những trải nghiệm và hoạt động trong thế giới thực xung quanh cuộc sống thực của ngƣời HS.
Khẩu hiệu đặc trƣng nhất của trƣờng phái này là „học thông qua làm việc!‟ – “learning by doing”. Tƣơng tƣ̣ nhƣ vâ ̣y , Keller và David Johnson cho rằng phần nhiều thời gian da ̣y học dành cho các tƣơng tác HS -GV và HS -tài liệu, còn tƣơng tác HS -HS thì hầ u nhƣ bị lờ đi. Trong mô ̣t tình huố ng ho ̣c hơ ̣p tác , sƣ̣ tƣơng tác đƣơ ̣c đă ̣c trƣng bởi viê ̣c khẳ ng đinh ̣ sƣ̣ phu ̣ thuô ̣c lẫn nhau về mu ̣c đić h với trách nhiệm cá nhân. Sƣ̣ phu ̣ thuô ̣c về mu ̣c đích đòi hỏi sƣ̣ chấ p thuâ ̣n của nhóm là ho ̣ sẽ cùng bơi hoặc cùng chìm.
Theo Roger và David Johnson , thông thƣơng ngày nay giáo viên cố tách ho ̣c sinh khỏi các 7 Luan van học sinh khác và cho ho ̣ làm việc độc lập, khi liên tu ̣c dùng các câu nhƣ “đừng có nhìn vào bài người khác ”, “tôi muố n thấ y những gì em làm chứ không phải là của người bên cạnh ”, “ tự làm bài đi ”. Mô ̣t nghich ̣ lý là đa số các nhà nghiên cứu so sá nh sƣ̣ tƣơng tác HS-HS chỉ ra rằ ng ho ̣c sinh ho ̣c hiê ̣u quả hơn khi ho ̣ làm viê ̣c hơ ̣p tác. Ngoài ra , Roger Johnson và David Johnson cho rằng có một số khác biệt giữa “chủ trương HS làm viê ̣c trong một nhóm ” và cấ u trúc làm việc hơ ̣p tác với mô ̣t nhóm học sinh ngồi cùng bàn và làm việc của họ , nhƣng tƣ̣ do nói với nhƣ̃ng ho ̣c sinh khác khi làm viê ̣c , không đƣơ ̣c cấ u trúc để là mô ̣t nhóm hơ ̣p tác khi không có sƣ̣ phu ̣ thuô ̣c tích cực lẫn nhau. Tƣơng tƣ̣ mô ̣t nhóm học sinh đƣợc phân công làm một báo cáo mà chỉ có một HS quan tâm và làm tất cả công việc trong khi những HS khác thì rong chơi cũng không phải là nhóm hợp tác.
Mô ̣t nhóm hơ ̣p tác có mô ̣t ý thƣ́c về trách nhiê ̣m cá nhân có nghiã là tấ t cả tấ t cả HS cầ n nắ m vƣ̃ng kiế n thƣ́c và cùng thành công. Theo nhƣ những vấn đề đƣợc đề cập trên đây, ta có thể thấy rằng, giáo dục tiến bộ là một phong trào, một tƣ tƣởng giáo dục có ý nghĩa rất rộng, bao hàm phần lớn các lĩnh vực và khái niệm học tập hiện đại nhƣ: học qua trải nghiệm (experiential learning), học thông qua giải quyết vấn đề (problem-based learning), học tập theo dự án (project-based learning), học tập thông qua phục vụ cộng đồng (service-based learning), học tập nhờ tƣơng tác và hợp tác (collaborative learning), học tập suốt đời (lifelong learning)… Kế thừa ý tƣởng giáo dục của các thời đại trƣớc, thế kỷ XIX, XX xuất hiện các trào lƣu thúc đẩy đổi mới phƣơng pháp giáo dục và dạy học. Nƣớc Đức là một quốc gia điển hình chịu ảnh hƣởng sâu rộng phƣơng pháp sƣ phạm của Pestalozzi quan điểm sƣ phạm hiện đại “lấy học sinh làm trung tâm” nhiều trƣờng học đƣợc thiết lập và áp dụng PPGD mới. Vào đầu thế kỷ 19, Anh nhận định rằng PP mới đối với họ có giá trị nhƣng chƣa có điều kiện thực hiện phổ biến.
Tại Mỹ, phƣơng pháp sƣ phạm mới đƣợc giới thiệu tại Philadelphia. Tại Thụy Sĩ, một trung tâm giáo dục đƣợc thiết lập để giảng dạy theo phƣơng pháp lấy học sinh làm trung tâm. Đầu thế kỷ XVII, A. Komenski nhà giáo dục Tiệp Khắc trong tác phẩm“ Lý luận dạy học vĩ đại” của mình đã nêu tính tự giác, tính tích cực với tƣ cách là một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng và cơ bản nhất.
Đầu thế kỷ XIX trong tác phẩm của mình, nhà giáo dục Nga Usinxki đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng của tính tích cực và độc lập trong quá trình học tập của học 8 Luan van sinh. Ngày nay, với xu hƣớng giảng dạy “ lấy người học làm trung tâm”, tính tích cực trong học tập của học sinh càng đƣợc quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn. Các công trình này gắn với tên tuổi của các nhà tâm lý học và giáo dục học nhƣ Aristova, M. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, Các nhà lý luận dạy học nổi tiếng nhƣ GS.
Trần Bá Hoành; GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn; PGS.TS ĐặngThành Hƣng; PGS.TS Vũ Hồng Tiến xem tƣ tƣởng dạy học tích cực đã là một chủ trƣơng quan trọng của ngành giáo dục nƣớc ta, đƣợc giới thiệu rộng khắp trên các báo và tạp chí chuyên ngành. Những năm gần đây, vấn đề thay đổi phƣơng pháp giảng dạy ngoại ngữ không ngừng đƣợc nâng cao, các hội thảo trong nƣớc và ngoài nƣớc luôn đƣợc tổ chức để thuyết trình về các phƣơng pháp giảng dạy tiếng Anh hiện đại, hiệu quả dành cho sinh viên quốc tế nói chung và cách ứng dụng cho sinh viên Việt Nam nói riêng. Hơn thế nữa, hội thảo còn là cơ hội giao lƣu trực tiếp với các giảng viên ngôn ngữ danh tiếng của Mỹ để trao đổi về những kinh nghiệm trong sự nghiệp giảng dạy của họ nhƣ: Đại học Nebraska-Lincoln và đại học Alabama của Mỹ năm 2011 tại VN. Bên cạnh đó số lƣợng đề tài nghiên cứu về phương pháp giảng dạy theo hƣớng tích cực hóa ở trong nƣớc ngày càng đƣợc phát huy mang tính ứng dụng rộng cao, cụ thể : Tác giả Hoàng Thị Minh Nhựt đã đề xuấ t giải pháp nâng cao chấ t lƣơ ̣ng da ̣y ho ̣c môn Anh văn chuyên ngành May và Thời trang [12 ].
Các giải pháp đƣợc đề xuất là áp dụng qui trình công nghệ dạy học mà trọng tâm đặt vào thiết kế hoạt động dạy học nhằm đạt mục tiêu đào tạo mà thời đại đặt ra cho toàn ngành giáo dục; đào tạo ra con ngƣời toàn diện về mặt phẩm chất và năng lực, năng động, tƣ duy sáng tạo và có khả năng làm chủ đất nƣớc. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Thanh Thủy đã tìm ra p hƣơng cách cải thiê ̣n tin ̀ h hình dạy và học môn tiế ng Anh kỹ thuâ ̣t chuyên ngành Điê ̣n tƣ̉ của GV và HS của trƣờng Trung cấp kỹ thuật công nghệ Đồng Nai.