Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1. Các khái niệm cơ bản 1.1 Chất lượng đào tạo “Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể”. Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo có đặc trưng sản phẩm là “Con người lao động”, có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp, tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo. Chất lượng đào tạo trước hết phải là thước đo của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động thực tiễn của người đã hoàn thành khóa học.
Nâng cao chất lượng đào tạo chính là việc làm cho người học sau khoa học có kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp tốt, có kiến thức chuyên môn vững vàng đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của tổ chức, của xã hội. Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trên thế giới thể hiện qua hệ thống quốc tế của các cơ quan Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (INQAAHE) được thành lập năm 1991 có 27 thành viên đồng ý rằng một trường chỉ có chất lượng khi mọi hoạt động trong trường đều đạt tiêu chuẩn chất lượng, nghĩa là từ mọi cấp quản lý trong trường, mọi hệ đào tạo (chính quy, tại chức, chuyên tu.), mọi chương trình (cao đẳng, đại học, sau đại học…), mọi chương trình nghiên cứu và phát triển (cấp trường, cấp bộ, cấp quốc gia, cấp quốc tế), đến các dịch vụ cộng đồng…, tất cả đều đạt tiêu chuẩn về chất lượng. Chất lượng đào tạo là một phạm trù phức tạp. Chất lượng đào tạo có thể hiểu với nhiều quan điểm khác nhau như: Chất lượng đào tạo là chất lượng của sản phẩm giáo dục, của đầu ra, hoặc là chất lượng của cả hệ thống giáo dục … Với phạm trù chất lượng khác nhau đòi hỏi những tiêu chí, những chuẩn và phương pháp đánh giá khác nhau.
Trong phạm vi đề tài này chất lượng đào tạo được hiểu là: sự đáp ứng của sản phẩm đào tạo với nhu cầu thị trường lao động của các đơn vị sử dụng lao 8 Luan van động. Để đánh giá chất lượng đào tạo ngoài ý kiến chủ quan của các cơ sở đào tạo, cần dựa trên ý kiến của sinh viên/học viên, cựu sinh viên/học viên và các bên liên quan khác. Như vậy với quan điểm tiếp cận thị trường, chất lượng đào tạo có thể được hiểu theo khái niệm sau đây: “Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo được đề ra nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng”.Krone đã phân tích về khách hàng của một trường Đại học gồm: khách hàng bên trong: sinh viên, cán bộ, giảng viên và khách hàng bên ngoài: các đơn vị sử dụng lao động; sử dụng dịch vụ, các cơ quan quản lý, phụ huynh, sinh viên tương lai… Sự hài lòng của khách hàng có lẽ là yếu tố quan trọng nhất trong quản lý chất lượng đào tạo. Bergquist đưa ra bốn tiêu chí mà chất lượng có thể được xác định và đánh giá để tăng sự hài lòng của khách hàng, đó là: đầu vào, đầu ra, giá trị gia tăng và quy trình tiêu chuẩn theo định hướng.
Mục tiêu đào tạo là do nhà trường đề ra nhưng mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầu phát triển trong nước, khu vực và thỏa mãn nhu cầu, kỳ vọng của các người liên quan (khách hàng). Trong nhà trường, cơ sở đào tạo, việc nâng cao chất lượng đào tạo đồng nghĩa với nâng mục tiêu đào tạo và quản lý để tăng mức độ đạt mục tiêu. Tuy nhiên không phải làm bằng bất cứ giá nào, mà mọi vấn đề cần phải xem xét giữa chi phí bỏ ra và hiệu quả mang lại.2 Quản lý chất lượng đào tạo Quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động quản lý nhằm xác định các chỉ tiêu, tiêu chuẩn chất lượng, nội dung, phương pháp và trách nhiệm thực hiện các chỉ tiêu và tiêu chuẩn đã xác định bằng phương tiện thích hợp như lập kế hoạch, điều khiển chất lượng nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng xác định với hiệu quả lớn nhất. Đây chính là quản lý các hoạt động cốt lõi của nhà trường, cơ sở đào tạo nhằm đạt được chất lượng “sản phẩm” đầu ra.
Trong nhà trường, cơ sở đào tạo thường có 3 hoạt động chủ yếu đó là đào tạo (giảng dạy-học tập), nghiên cứu và dịch vụ phục vụ xã hội. Quản lý chất lượng trong trường, cơ sở đào tạo cơ bản sẽ là quản lý đào tạo; Quản lý nghiên cứu và quản lý các dịch vụ phục vụ cộng đồng. Quản lý chất lượng phân theo chức năng điều kiện: Quản lý Đội ngũ; quản lý sinh viên, học viên; quản lý dịch vụ hỗ trợ đào tạo; quản lý nguồn lực; tài sản; quản lý điều hành chung. 9 Luan van + Quản lý đào tạo (giảng dạy và học tập): QLCL trong lĩnh vực ĐT cần xem xét tất cả các vấn đề liên quan đến cung cấp dịch vụ ĐT cho SV, các hoạt động trong lĩnh vực này gồm: Thiết kế CTĐT từ việc xác định mục tiêu đào tạo (kết quả học tập mong đợi), nội dung CTĐT, các điều kiện về nguồn lực để tổ chức thực hiện CTĐT, như đội ngũ GV, đội ngũ nhân viên hỗ trợ, cơ sở vật chất, trang thiết bị, SV, …; Tổ chức thực hiện CTĐT là giám sát giảng dạy và học tập, xây dựng các phương pháp đánh giá và thực hiện đánh giá, kiểm soát các chuẩn mực CL.
QLĐT là lĩnh vực QLCL lớn nhất trong nhà trường, nơi mà nhiều quy trình đa dạng được thiết lập và vận hành. CL trong lĩnh vực ĐT được duy trì nếu như nhà trường ĐH xây dựng được các CTĐT với các chuẩn mực CL phù hợp với yêu cầu của các bên liên quan, không ngừng cải tiến nâng chuẩn, ra quyết định phù hợp và cung cấp CTĐT theo các quy trình đã công bố. + Quản lý nghiên cứu khoa học: Lĩnh vực nghiên cứu khoa học liên quan đến cả chất lượng của chính các nghiên cứu, môi trường khoa học và đặc biệt là coi nghiên cứu như một phương pháp ĐT. CL của lĩnh vực này được xác định bằng tác động của nghiên cứu đến nhà trường, khả năng QL công việc nghiên cứu của nhà trường và việc học tập của sinh viên có theo cách thức nghiên cứu không? + QL dịch vụ cộng đồng: Bao hàm những hoạt động khác với giảng dạy và nghiên cứu.
Đó có thể là các hoạt động văn hóa nghệ thuật thông tin và phát triển cộng đồng. + QL đội ngũ thường tập trung vào sử dụng năng lực, tạo cơ hội, tạo động lực cho CB giảng dạy, CB phục vụ và QL. Đội ngũ được QL thông qua quá trình tuyển chọn, bồi dưỡng, đánh giá và bổ nhiệm. Tạo cơ hội cho đội ngũ được thực hiện qua việc phân công công việc, tạo môi trường làm việc thuận lợi, ghi nhận thành tích, trả lương, thưởng, phạt tạo động lực khuyến khích làm việc tạo ra CL.
+ QLSV tạo điều kiện để phát huy năng lực, tận dụng cơ hội và khuyến khích động lực học tập. + QL các dịch vụ hỗ trợ đào tạo như thư viện, máy tính các dịch vụ hỗ trợ giảng dạy và học tập khác về nghe nhìn, tài liệu dạy học, các dịch vụ hành chính trong tuyển sinh, lập kế hoạch, đăng ký… + QL nguồn lực và CSVC, thiết bị… khả năng sử dụng hiện tại và đáp ứng tương lai. 10 Luan van + QL và điều hành nhà trường, quá trình ra chính sách, tạo dựng bộ máy, phân công chức năng nhiệm vụ các bộ phận, xây dựng quy trình… Như vậy, CLĐT có được do QLCL trong tất cả lĩnh vực QL nêu trên. Nội dung quản lý chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Khi đảm bảo chất lượng được xem như một hệ thống quản lý, có nghĩa là được đặt vào tay những người có trách nhiệm bên trong một trường, cơ sở đào tạo.
Câu hỏi có thể được đặt ra là liệu hệ thống quản lý đó có phải được kiểm soát từ bên ngoài nhằm giúp các trường đảm bảo rằng quá trình đó là công bằng và khách quan không. Có thể thấy rõ mối quan tâm về các cơ chế có tính tự chịu trách nhiệm nhằm có thể cải tiến khả năng đảm bảo chất lượng chuyên môn của tấm bằng ngày càng cao. Bên cạnh đó, một số hệ thống các trường cơ sở đào tạo đang theo đuổi cơ chế chính sách thị trường trong quản lý, trong đó có mô hình BS 5750/ ISO 9000; mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM) (Ashworth và Harvey, 1994) và mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model) (SEAMEO, 1999). Bản chất của mô hình BS 5750/ISO 9000 là một hệ thống các văn bản quy định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất đảm bảo mọi sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp với mẫu mã, quy cách, các thông số kỹ thuật quy định trước đó với mục tiêu là tạo một đầu ra “phù hợp với mục đích”.
BS 5750/ ISO 9000 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt đối với những người sử dụng, đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực và thời gian. Mọi người phải nắm được các yêu cầu đặt ra và tuân thủ các quy trình một cách nghiêm túc. BS5750/ ISO 9000 còn xa lạ với giáo dục đại học. Do có nguồn gốc từ lĩnh vực sản xuất hàng hoá nên ngôn ngữ dùng trong bộ tiêu chuẩn này không phù hợp.
Trong những năm 1980 và 1990, cùng với chủ nghĩa nghệ thuật quản lý và phong trào tiếp thị hóa, ISO bắt đầu được đưa vào các lĩnh vực kinh doanh, và sau đó được giới thiệu vào lĩnh vực giáo dục đại học (Russo,1995). Tư tưởng chủ đạo của các chuẩn ISO có vẻ rất đơn giản: nói những gì bạn làm, làm những gì bạn nói, ghi lại những gì bạn đã làm, kiểm tra lại kết quả và hành động khi có sự khác biệt (Russo, 1995; Woodhouse, 1999). Có thể thấy là nếu như quá trình quản lý chất lượng của một công ty được tiến hành trôi chảy thì nó sẽ cho ra được những sản phẩm có chất lượng.