Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDTC ở trường trung học cơ sở Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDTC ở các trường THCS huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDTC ở các trường THCS trên địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. 10 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan về các nghiên cứu ở nước ngoài Trong hệ thống giáo dục phổ thông của phần lớn các quốc gia, GDTC là môn học bắt buộc trong chương trình giảng dạy của Bộ GD&ĐT.
Cùng với những quốc gia không yêu cầu bắt buộc học GDTC nhưng khuyến khích tham gia, con số này tăng lên đến 95%. Việc tham gia học GDTC ở các trường học cũng khác nhau giữa các khu vực và các nước phụ thuộc vào lứa tuổi và từng giai đoạn học tại trường (Lý Đức Thùy & cộng sự, 2013). Dù có những quy định chính thức về việc thực hiện GDTC trong trường học nhưng việc thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong bối cảnh thực hiện xã hội hóa các chương trình giảng dạy. Tuy nhiên, một số các cuộc điều tra cấp quốc tế được thực hiện trong thập kỷ đã đưa ra con số cho thấy 79% các nước có áp dụng GDTC trong trường học, trong đó ở Châu Âu là 89%, Châu Á và Bắc Mỹ chỉ có 33% (Lý Đức Thùy & cộng sự, 2013).
Một số nước hạn chế về hoạt động giáo dục thể chất: Ghana: Do tình hình về chính trị và quân sự mà nước này hầu như không có chính sách GD nào dành cho bộ môn GDTC. Chính phủ nước này thậm chí còn loại bỏ GDTC ra khỏi chương trình đào tạo. Chính phủ không đưa ra bất kỳ một cam kết nào trong việc đầu tư ngân sách cho bộ môn này; Trung Quốc: Đa số các bậc phụ huynh không có thiên hướng cho con mình đầu tư quá nhiều vào môn GDTC; Ireland: Một số trường THCS, HS thậm chí còn không được học bộ môn này. Rõ ràng, GDTC không được đầu tư nhiều bằng những môn học khác tại Ireland; 11 Canada (Quebec): Trường học có quyền tự điều chỉnh chương trình giảng dạy.
Chính quyền hạn này cho phép một số trường nhưng không phải tất cả áp dụng thời gian tối thiểu nhất cho môn GDTC, thậm chí là phản đối những nỗ lực nhằm hợp thức hóa bộ môn này trong chương trình giảng dạy (Lý Đức Thùy & cộng sự, 2013). Một số nước quan tâm đến hoạt động giáo dục thể chất: Hy Lạp: Việc tham gia các lớp GDTC là bắt buộc đối với tất cả HS từ tiểu học đến trung học. Tại phần lớn các bậc học, giờ học GDTC là khoảng 2 buổi/tuần. Ở lớp 7-8 là 3 buổi/tuần, trong khi đó ở lớp 11 chỉ có 1 buổi/tuần.
Thời lượng cho mỗi tiết học là 45 phút. Tất cả giáo viên GDTC ở trường tiểu học và trung học đều có bằng cử nhân do cơ quan quản lý về GDTC cấp; Phần Lan: GDTC là bắt buộc đối với tất cả HS trong hệ thống GD cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9). Các HS phải học GDTC 2 giờ mỗi tuần. Thêm vào đó, ở lớp 7 đến lớp 9 HS có thể tự chọn khóa học GDTC được quy định trong chương trình của trường địa phương.
Sau khi kết thúc chương trình học cơ bản, thanh niên có thể chọn tiếp tục học trung học chuyên nghiệp trình độ dự bị đại học hoặc học lên trung học (lớp 10 đến lớp12), khi đó họ phải tham gia hai khóa GDTC bắt buộc và 2 khóa tự chọn trong suốt 3 năm học; Pháp: Việc tham gia các lớp GDTC là bắt buộc đối với tất cả HS từ tiểu học đến trung học. Tại phần lớn các bậc học, giờ học GDTC là khoảng 2 lần/tuần (ví dụ: 3 giờ với HS lớp 1 đến lớp 9 trừ HS lớp 6 học 4 giờ/tuần, trong khi đó chỉ 1 lần/tuần với HS lớp 10 đến lớp 12) Singapore: Mục đích của GDTC ở Singapore hướng đến là cho phép HS chứng minh bản thân, kỹ năng thể chất, thực hành và các giá trị để tận hưởng trọn vẹn cuộc sống năng động và khỏe mạnh. Để đạt được mục đích này, Bộ Giáo dục Singapore đưa ra 6 mục tiêu cụ thể để hướng dẫn sự phát triển thể chất của mỗi cá nhân: 1) Nắm vững các kỹ năng di chuyển để tham gia vào đa dạng các loại hoạt động thể chất; 2) Hiểu và áp dụng các khái niệm, nguyên tắc và chiến lược di 12 chuyển trong đa dạng các loại hoạt động thể chất; 3) Thể hiện các hoạt động thực hành an toàn trong các hoạt động thể chất và hoạt động hàng ngày liên quan đến bản thân, người khác và môi trường; 4) Thể hiện các hành vi cá nhân và xã hội tích cực thông qua những kinh nghiệm khác nhau; 5) Nắm vững và duy trì sức khỏe, tăng cường thể lực thông qua tham gia thường xuyên vào các hoạt động thể chất; 6) Tận hưởng và trân trọng những lợi ích của một cuộc sống tích cực và khỏe mạnh (Singapore Ministry of Education, 2016, tr. Bài nghiên cứu của Ee Ling Low và cộng sự (2017), hệ thống giáo dục Singapore và thời gian phân chia cho các môn học để đạt được kết quả học tập mong đợi thực hiện ở trường trung học cơ sở Kanji - Singapore.
Theo thống kê, HS học giáo dục thể chất 1-2 lần/tuần (1.5 giờ/tuần), tương tự thời gian phân bổ cho các môn Địa Lý, Xã hội học. Theo Michalis và cộng sự (2017), trong nghiên cứu của ông về: Đánh giá các chính sách liên quan đến hoạt động GDTC và dinh dưỡng của Úc, chính sách GDTC và sức khỏe được đặt ra ở cấp quốc gia và cấp bang/lãnh thổ như sau: - Chính sách GDTC và sức khỏe - Cấp quốc gia: phân bổ thời gian cho môn học GDTC và sức khỏe được khuyến nghị là 2 giờ/tuần; Chính sách GDTC và sức khỏe - Cấp bang / lãnh thổ: Tất cả các tiểu bang/lãnh thổ xác định GDTC và sức khỏe là môn học chính của chương trình giảng dạy theo chương trình giảng dạy của Úc. Một nghiên cứu với trẻ em ở Mỹ đã tìm thấy một mối quan hệ đáng kể giữa các thành phần sức mạnh và sức chịu đựng cơ bắp với điểm số cao hơn và hiệu suất hoạt động liên quan đến hoạt động thể chất của cường độ mạnh mẽ (Coe DP, Peterson T, Blair C, Schutten MC, Peddie H, 2013); Cơ thể con người được tạo ra để di chuyển nhưng hầu hết các phát minh của thời đại hiện nay có xu hướng ngăn cản con người di chuyển. Để chống lại mức độ giảm hoạt động thể chất ở nhiều người trẻ, các chuyên gia y tế đang kêu gọi GDTC ở trường để trang bị cho HS các kỹ năng và kiến thức cần thiết để hoạt động thể chất suốt đời (Krouscas, J.
13 Như vậy, điểm qua tình hình GDTC của một số nước trên thế giới và các nghiên cứu, có thể thấy rằng một số quốc gia vẫn xem nhẹ hoạt động GDTC do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bên cạnh đó nhiều quốc gia (nhất là Châu Âu) coi GDTC là một trong những nội dung giáo dục quan trọng và cần thiết với tỉ lệ rất cao. Hơn thế nữa, dựa vào tình hình giáo dục hiện nay, vấn đề GDTC chưa thực sự được quan tâm đúng mức thì những nghiên cứu trên chính là cơ sở vững chắc để phát triển hoạt động GDTC trong trường học cũng như trong xã hội ở các quốc gia nói chung và ở Việt Nam ta nói riêng. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 1.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong trường học Năm 1941 khi chính quyền chưa về tay nhân dân nhưng vị trí và vai trò của TDTT cũng đã được xác định trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh: “Khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống ngày càng thêm khỏe mạnh”. Ngay sau khi giành được chính quyền, vận mệnh của đất nước như ngàn cân treo sợi tóc, vì toàn Đảng toàn dân đang phải lo chống thù trong giặc ngoài, chống giặc đói, giặc dốt nhưng trong thư gửi các cháu thiếu nhi Việt Nam nhân dịp tết Trung thu ngày 15/9/1945, Bác Hồ viết: “Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang”. Quan tâm đến việc chăm lo sức khỏe cho nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 14 ngày 30/01/1946 thiết lập Nha Thể dục với mục đích là: “Xét vấn đề thể dục rất cần thiết để tăng bổ sức khỏe quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam”. Theo Hồ Chí Minh (1946): “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe.
Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”, đó là một câu trong bài “Sức khỏe và thể dục” của Chủ tịch Hồ Chí 14 Minh đăng trên báo Cứu quốc ngày 27/3/1946. Và cũng chính là “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” của Bác, từ đó chính thức khai sinh ra ngành TDTT cách mạng. Tháng 11/1949 Bác gửi thư cho Trường lục quân Trần Quốc Tuấn, trong thư Bác có nêu: “Phải luyện tập thân thể cho mạnh khỏe”. Đó là một trong bốn mục tiêu thi đua của trường.
Ngày 19/01/1949 đến thăm HS Trường Đại học nhân dân Việt Nam, Bác nói: “Trong vui chơi cũng có giáo dục, cần có những thú vui chơi văn hóa, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng”. Phát biểu tại Đại hội Đoàn Thanh niên cứu quốc lần thứ 2 ngày 02/11/1956, Bác Hồ căn dặn đoàn viên phải gương mẫu trên bốn mặt hoạt động, trong đó “Phải rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh thì mới đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước, lợi dân” Sự quan tâm đến thể dục thực chất là sự quan tâm đến con người, vì con người là vốn quý nhất của xã hội, là tài sản vô giá của quốc gia, thể dục là biện pháp màu nhiệm đem lại sức khỏe cho mọi người nên Đảng và Nhà nước đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng để lãnh đạo và chỉ đạo. Ngày 02/10/1958 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 106/CT-TW khẳng định: “Dưới chế độ chúng ta việc săn sóc sức khỏe của nhân dân, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ.