CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Việc nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh hiện nay là một vấn đề cần thiết cho ngành giáo dục nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Với tính cấp thiết đó đã có một số tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động GDTC.
Nghiên cứu của Trudeau và Shephard (2008) đã xem xét các mối quan hệ giữa kết quả học tập và một số yếu tố quyết định đến việc tham gia các hoạt động thể chất ở trường học, bao gồm giáo dục thể chất (PE), hoạt động thể chất miễn phí tại trường học (PA) và thể thao học đường. Dữ liệu nghiên cứu chỉ ra rằng, việc phân bổ thêm một giờ mỗi ngày cho các chương trình PA không ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập của học sinh tiểu học, mặc dù thời gian phân bổ cho các môn học khác thường có mức giảm tương ứng. Việc nhấn mạnh thêm chương trình giảng dạy vào PE có thể dẫn đến mức tăng tuyệt đối nhỏ về điểm trung bình (GPA), và những phát hiện như vậy cho thấy rõ ràng sự gia tăng tương đối về hiệu suất trên mỗi đơn vị thời gian giảng dạy học thuật. Hơn nữa, phần lớn các chương trình như vậy đã chứng tỏ sự cải thiện về một số thước đo về thể chất (PF).
Các quan sát cắt ngang cho thấy mối liên hệ tích cực giữa kết quả học tập và PA, nhưng PF dường như không cho thấy mối liên hệ như vậy. PA có ảnh hưởng tích cực đến khả năng tập trung, trí nhớ và hành vi trong lớp học. Dữ liệu từ các nghiên cứu gần như thực nghiệm tìm thấy sự hỗ trợ trong các thí nghiệm cơ học về chức năng nhận thức, chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa PA và hiệu suất trí tuệ [24]. Với mục đích làm rõ liệu thái độ của học sinh đối với các lớp học giáo dục thể dục bắt buộc có sự khác biệt về hoạt động giáo dục thể chất của học sinh tiểu học trong thời gian rảnh rỗi hay không, nghiên cứu của Bonisławska và các cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng, các hoạt động GDTC được thực hiện thường xuyên nhất là: chơi bóng, đạp xe, bơi lội và chạy.
Những học sinh dành nhiều thời gian nhất cho các hoạt động ngoài trời là những em gái hăng hái tham gia các bài học thể dục và những em trai tham gia các hoạt động GDTC “mặc dù không thực sự muốn” hoặc “vì phải làm vậy” [24]. Nhằm mục đích tìm ra tác động của hoạt động thể chất đến kết quả học tập của giáo dục thể chất, Yulianti và cộng sự (2019) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phương pháp khảo sát bằng kỹ thuật kiểm tra và đo lường. Đối tượng của nghiên cứu là học sinh tại một trường trung học công lập ở Đông Jakarta và 216 học 6 sinh của 6 lớp lớp 8 tham gia nghiên cứu này. Hoạt động thể chất có tác động tích cực đến kết quả học tập thể dục của học sinh.
Hoạt động thể chất có tác động tích cực trực tiếp đến kết quả học tập môn giáo dục thể chất. Điều này có nghĩa là việc tăng cường hoạt động thể chất sẽ dẫn đến kết quả học tập giáo dục thể chất tăng lên. Ý nghĩa của nghiên cứu này là có thể nỗ lực cải thiện kết quả học tập giáo dục thể chất thông qua hoạt động thể chất có cấu trúc, bằng cách cung cấp các hoạt động thể chất, trò chơi và thể thao được lựa chọn để đạt được mục tiêu giáo dục [25]. Trong nghiên cứu của Mavilidi và các cộng sự (2019) đã đánh giá tác động của chương trình 'Tư duy khi di chuyển bằng tiếng Anh' (TWM-E) đối với hoạt động thể chất, hành vi thực hiện nhiệm vụ trong lớp học, thành tích học tập và chức năng điều hành của trẻ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chương trình TWM-E có khả năng cải thiện mức độ hoạt động thể chất của học sinh tiểu học, cùng với kết quả học tập (hành vi thực hiện nhiệm vụ, nhận thức và thành tích học tập), đồng thời cung cấp cho các bên liên quan những bài học và hướng dẫn mẫu minh họa cách dạy tiếng Anh cho trẻ em trong khi họ đang di chuyển [22]. Nghiên cứu của Jamaluddin và cộng sự (2021) đã nhấn mạnh rằng, giờ học giáo dục thể chất (PE) là cơ hội thích hợp để tăng cường hoạt động thể chất cho trẻ. Mặc dù mức độ hoạt động thể chất từ trung bình đến mạnh (MVPA) trong các giờ học Thể dục đã được nghiên cứu ở một số quốc gia, nhưng mức độ MVPA trong các giờ học Thể dục chưa bao giờ được báo cáo tại các trường tiểu học ở Singapore. Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra mức độ cường độ hoạt động thể chất trong các giờ học Thể dục tại một trường tiểu học ở Singapore.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian trung bình của các cấp độ MVPA (%) trong thời gian học dự kiến ở cả ba cấp lớp là 46,98 ± 5,25%, nhưng trung bình của thời gian đạt các cấp độ MVPA (%) trong giờ học thực tế là 69,74 ± 7,31%. Những kết quả này chỉ ra rằng có thể đạt được thời gian MVPA được khuyến nghị trong các bài học Thể dục. Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ hữu ích cho giáo viên dạy Thể chất trong việc phản ánh liệu các bài học Thể dục của họ có hiệu quả trong việc thúc đẩy mức độ hoạt động thể chất của học sinh tiểu học hay không [23]. Mục đích nghiên cứu của Kliziene và các cộng sự (2021) là xác định sự tác động của các chương trình giáo dục thể chất đối với hoạt động thể chất và sức khỏe tinh thần của học sinh tiểu học.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, chương trình giáo dục thể chất 8 tháng được xây dựng và áp dụng đúng mục đích đã có tác động tích cực đến hoạt động thể chất và tinh thần của trẻ tiểu học (6–7 và 8–9 tuổi) ở ba khía cạnh chính: lo âu cơ thể, lo âu cá nhân và lo âu xã hội. Nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng, sự can thiệp của chương trình giáo dục thể chất kéo dài 8 tháng có hiệu quả trong việc tăng mức độ hoạt động thể chất. Những thay đổi trong các hoạt động này có thể đòi hỏi những can thiệp hành vi chuyên sâu hơn với trẻ em hoặc những can thiệp ngược chiều ở cấp độ gia đình và xã hội, cũng như ở cấp độ môi trường học đường. Những phát 7 hiện này có liên quan đến các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách, người hành nghề y tế công cộng và bác sĩ tham gia vào các dịch vụ nâng cao sức khỏe, hoạch định chính sách và vận hành [21].
Việc nâng cao chất lượng hoạt động GDTC và quản lý họat động cho học sinh hiện nay là một vấn đề cần thiết cho ngành giáo dục nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Với tính cấp thiết đó đã có một số tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động GDTC. Nghiên cứu trong nước Bên cạnh các tác giả quốc tế, nhiều tác giả trong nước cũng đã nghiên cứu về Giáo dục thể chất: Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Lê Quang Triệu (2018); “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục thể chất tại các trường THCS huyện Huế Võ, tỉnh Bắc Ninh”. Đề tài tập trung đánh giá thực trạng quản lí hoạt động GDTC tại các trường Trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn huyện Huế Võ và thực trạng quản lí hoạt động GDTC của phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Huế Võ, từ đó tác giả đề xuất 6 biện pháp quản lí hoạt động GDTC ở các trường THCS của phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Huế Võ, tỉnh Bắc Ninh [19].
Luận văn thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Trần Văn Hồng (2019) “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục thể chất tại các trường THCS quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng”. Đề tài đánh giá thực trạng quản lí giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, quản lí bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên, việc nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GDTC trong các trường THCS quận Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng, quản lí kế hoạch, quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động GDTC, quản lí việc kiểm tra đánh giá, từ đó tác giả đưa ra 6 biện pháp nhằm nâng cao hoạt động GDTC tại các trường THCS quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng [9]. Luận văn thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Diệp Chanh Tha: “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục thể chất ở các trường Trung học phổ thông huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh” Đề tài đánh giá thực trạng việc nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GDTC trong trường trung học phổ thông, thực trạng quản lí mục tiêu, nội dung chương trình, quản lí việc kiểm tra đánh giá và thực trạng quản lí các điều kiện phục vụ cho hoạt động GDTC, từ đó tác giả đề ra 5 biện pháp nhằm nâng cao hoạt động GDTC tại nhà trường [18]. Từ việc phân tích thực trạng, Phạm Thị Mai và các cộng sự (2021) đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giờ học thể dục chính khóa cho HS trường THCS Hải Hòa - Hải Lăng - Quảng Trị, bao gồm: Tuyên truyền đổi mới nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của công tác GDTC và tăng cường sự lãnh đạo, công tác quản lý GDTC ở trường THCS; Bồi dưỡng cho GV đạt chuẩn kiến thức 2 và nghiệp vụ, chuyên môn; Tối ưu hoá lượng vận động trong giờ học thể dục chính khoá; Tăng cường và khai thác tối đa cơ sở vật chất [13].
8 Nghiên cứu của Trần Văn Cường và cộng sự (2022) đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thường quy trong thể dục thể thao, từ đó tiến hành đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất trường Tiểu học Minh Tân A, Huyện Phú Xuyên, Tp. Hà Nội làm cơ sở để xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTC trong nhà trường [6].