Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL của học sinh THCS 1. Nghiên cứu của các tác giả trên thế giới J.Cô-men-xki (1592-1670) - Ông tổ của nền sư phạm cận đại trong thời gian làm cố vấn giáo dục Hung-ga-ri đã rất coi trọng HĐGDNGLL. Ông cho HS tham gia biểu diễn sân khấu để các em ghi nhớ sâu sắc những nội dung cần thiết.
Ông thấy rằng những chàng trai thường ngày co ro, rụt rè nay ra trước công chúng với vẻ tự tin, xử sự điềm tĩnh. Những con người mới mấy tuần lễ trước còn đọc ngắc ngứ, bây giờ có thể nói một đoạn độc thoại dài mà không phạm lỗi hoặc giải thích những khái niệm một cách hùng hồn đầy cách thiết phục. Cô-men-xki ở thời đó đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt việc mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp học, nhằm khơi dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính HS, đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới đầy thuyết phục này và khẳng định: “Học tập không chỉ là lĩnh hội kiến thức trong sách vở, mà còn là lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ”[11]. Ngoại khóa để thu hút HS, làm cho họ hứng thú và đi đến kết luận rằng công tác ngoại khóa cần được suy nghĩ kỹ và tiến hành ở tất cả các lớp học trong hệ thống giáo dục mà không được mang tính chất thất thường.
Công việc ngoại khóa nếu được tiến hành có hệ thống không những nâng cao trình độ chung về sự tiến bộ của HS mà còn cả về trình độ ngôn ngữ, kiến thức của các em. Cai-rốp nhà giáo dục người Nga đã viết: “Khi đặt kế hoạch công tác giảng dạy chung cho cả năm học mới, người hiệu trưởng phải xét kết quả HĐGDNGLL năm trước và nhằm mục đích nâng cao thành tích của HS, củng cố kỷ luật và nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường, mà quyết định nhiệm vụ HĐGDNGLL cho năm học tới. Trong kế hoạch công tác của nhà trường có dành một mục riêng cho Hoạt động GDNGLL. Mục đích đó gồm mấy yếu tố sau: xây dựng điều kiện cơ sở vật chất cho Hoạt động GDNGLL năm tới, các Hoạt động GDNGLL của nhà trường và của lớp, phân phối lực lượng và định kỳ cho kế hoạch.
Về kế hoạch phải tỉ mỉ, cụ thể về cách tổ chức các hoạt động, hoặc các ngày nghỉ… thì người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo sẽ quyết định riêng và bổ sung kế hoạch toàn năm. Những người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo ấy chính là những người được ủy nhiệm thi hành những điều bổ sung kia”[10]. Như vậy, các công trình nghiên cứu này đã làm nổi rõ tầm quan trọng của HĐGDNGLL, và chỉ ra một số biện pháp cần thiết cho người hiệu trưởng phải làm gì để tổ chức và quản lý tốt các hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường học. Nghiên cứu của các tác giả trong nước Ngay từ thời kỳ đầu của nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra phương pháp đào tạo nên những người tài đức là: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội! Ở nước ta, tác giả Nguyễn Văn Thiềm trong bài “Mấy biện pháp giáo dục HS ngoài giờ lên lớp theo địa bàn dân cư” cho rằng chất lượng giáo dục HS ở nhà trường giảm sút có nguyên nhân từ việc tổ chức các HĐGDNGLL bị buông lỏng[43].
Tác giả Hà Thế Ngữ trong cuốn “Giáo dục học một số vấn đề lý luận và thực tiễn”[30] cũng nhấn mạnh vai trò và tác dụng của hình thức hoạt động ngoại khóa, coi đây là một trong những hình thức hoạt động dạy học có khả năng tạo hứng thú cho HS, giúp các em mở rộng, nâng cao, khắc sâu kiến thức được tốt hơn. Nhìn chung các tác giả trên thế giới và trong nước đều đề cao vai trò và tác dụng của HĐGDNGLL trong quá trình giáo dục HS, HĐGDNGLL là một trong những hình thức tổ chức dạy học quan trọng, không thể thiếu trong quá trình dạy học và giáo dục HS. Chính vì vậy, quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường THCS đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, song hầu hết các tác giả chưa phân tích cụ thể các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường THCS chi tiết hơn, cụ thể hơn. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường a) Quản lý Theo từ điển Giáo dục học: Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [19]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý là gìn giữ và phát triển một vấn đề nào đó theo hướng nhất định [2]. Theo tác giả Lê Quang Sơn: Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, qui định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kỹ thuật…), chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để bảo đảm hoàn thành mục tiêu của tổ chức đề ra[41]. Do có vai trò đặc biệt quan trọng của quản lý đối với sự phát triển kinh tế, từ những năm 1950 trở lại đây đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết và thực hành quản lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau như: Tiếp cận kiểu kinh nghiệm; tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân; tiếp cận theo lý thuyết quyết định; tiếp cận toán học và tiếp cận theo các vai trò quản lý.
Từ những cách tiếp cận khác nhau, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý như: Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua nỗ lực của người khác; quản lý là hoạt động của các cơ quan quản lý 6 nhằm đưa ra các quyết định; quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự trong cùng một tổ chức; quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được những mục đích của tổ chức; hoặc đơn giản hơn nữa, quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó… b) Quản lý giáo dục - QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em. - Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (Hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[35]. Theo các thuyết quản lý hiện đại, quản lý là quá trình làm việc và thông qua những người khác để thực hiệc các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường biến động. Hoạt động quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu một cách khái quát thì: Hoạt động quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ. Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
Quản lý giáo dục là một lĩnh vực của quản lý xã hội. Trong luận văn này sử dụng định nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra”[27]. Quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt khác nhau, song 7 trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thể quản lý giáo dục; khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) quản lý giáo dục. c) Quản lý nhà trường Nhà trường (cơ sở giáo dục) chính là nơi tiến hành các quá trình giáo dục tổng thể, có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: Thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền thụ lại, đồng thời phải làm phong phú những kinh nghiệm đó.